Egypt Israel Oct 2007

2011 Our Lady of Guadualupe




Bấm nút "Download Now"
để cài Windows Media Player. 
Windows Media Player 11
Download Now

Windows Media Download Center
 


Thursday, June 30, 2005

DANH XƯNG TRONG GIÁO HỘI 4

Trần Mỹ Duyệt


- Allo! Duyệt hả? Sáng nay có dự thánh lễ tạ ơn của tân linh mục Thượng không?

- Không! Thưa anh.

- Tại sao?

- Lúc đầu em đã có ý định đi, nhưng giờ chót có phiên họp quan trọng nên không đi được. Có gì đặc biệt không anh?

- Có. Lần đầu tiên sau nhiều năm và nhiều lần cố gắng, hôm nay trong thánh lễ tạ ơn và buổi tiếp tân sau đó, không có một từ cha/con nào được nhắc tới. Tất cả là linh mục/tôi, hoặc linh mục/chúng tôi. Nhưng mọi người đều vui vẻ, hài lòng. Bầu khí trọng kính, thái độ hòa nhã, và tư cách lịch sự vẫn thấy tỏa ra.

- Vậy anh có thấy mình phải cố gắng lắm không? Anh có sợ rằng việc làm của anh sẽ bị dị nghị và đả kích không?

- Cố gắng là điều dĩ nhiên. Sau gần 70 năm gọi cha xưng con, từ ngữ này đã vào đến xương tủy, bây giờ gọi linh mục xưng tôi tự nhiên thấy ngượng miệng. Ngượng miệng còn hơn gọi cha xưng con. Do đó, anh đã phải cố nhủ mình, mọi sự phải được bắt đầu, và đã nhất định không dùng từ cha/con trong khi điều hành và hướng dẫn thánh lễ cũng như trong buổi tiệc tiếp tân.

- Riêng về vấn đề dị nghị thì anh không thấy. Có lẽ người mình gọi cha xưng con cũng chỉ là thói quen, nên bây giờ gọi linh mục xưng tôi cũng sẽ trở thành quen miệng thôi. Hơn thế, khi gọi linh mục xưng tôi, anh cảm thấy gần gũi, thân mật, và tự nhiên hơn khi gọi cha xưng con.


Trên đây là mẩu đối thoại giữa người viết và một vị có thế giá lớn trong sinh hoạt cộng đồng và cộng đoàn tại Nam California, và một phần trong những sinh hoạt tôn giáo tại Hoa Kỳ.

Từ cha/con vẫn được người Công Giáo Việt Nam dùng để giao tế và xưng hô với các linh mục, như phần đông vẫn thường quan niệm đó chỉ là một lối xưng hô "quen miệng", và nó đã đi vào tâm thức, khiến trở thành tập quán. Do đó, để sửa lại lối xưng hô này, cũng đòi hỏi thời gian như thời gian đã tạo nên nó. Một thời gian ảnh hưởng đủ để không cảm thấy ngại ngùng, ngượng miệng khi xưng hô linh mục/tôi hoặc linh mục/chúng tôi như hiện nay vẫn thường quen miệng gọi cha, xưng con, hoặc gọi con xưng cha.

Trong bài trước, khi đề nghị Hội Đồng Giám Mục Việt Nam hoặc các giám mục có phản ứng và trực tiếp hơn vào việc chuyển đổi lối xưng hô này, người viết cũng gợi ý là các linh mục cũng hãy tự đơn giản hóa, nhẹ nhàng, và thân mật hơn khi xưng hô với tín hữu bằng cách tránh dùng từ cha/con. Nhưng trong thâm tâm, người viết vẫn nghĩ rằng, đấy chỉ là một gợi ý mang phần lý thuyết, ít hy vọng sẽ xẩy ra trong thực tế. Lý do, vì lối xưng hô cha/con hoặc con/cha đã trở thành một tập quán và đi vào dòng chính của sinh hoạt của người Công Giáo Việt Nam, đến nỗi chính các giám mục cũng gọi cha xưng con với nhau, và dĩ nhiên, các linh mục cũng xưng hô với nhau và các tín hữu như vậy.

Tập quán khi đã trở thành một hình thức sinh hoạt xã hội, dù chỉ là trong phạm vi tôn giáo, đều mang tính vô thức. Tự động phát ra, và tự động nói lên đến nỗi không cần phải suy nghĩ. Nhiều khi nói mà chẳng biết mình nói gì, hoặc tại sao mình lại xưng hô như vậy. Vì thế, việc sửa đổi lối xưng hô đã trở thành tập quán như vậy tất nhiên gặp nhiều khó khăn.

Trước hết, là đối với tập thể. Tâm lý quần chúng sẽ không dễ chấp nhận một sự sửa đổi nếu hành động nào đó đã trở thành truyền thống, lề thói hay tập tục. Trong văn chương Việt Nam đã diễn tả cái ảnh hưởng tâm lý quần chúng ấy như sau: "Phép vua thua lệ làng".

Tiếp đến, người muốn sửa đổi phải đối diện với phản ứng của chính mình, một phản ứng nghĩ ngợi, ngượng ngùng. Rồi phản ứng của quần chúng quanh mình. Một người bạn bác sĩ của tôi tâm sự:

"Vẫn biết làm bác sĩ thì cũng chỉ là một nghề. Ngoài cải bề mặt bác sĩ ấy, mình cũng vẫn là một người mang tên Mít hay Xoài. Vậy mà, mỗi lần y tá hoặc bệnh nhân vô tình hay hữu ý không gọi mình là bác sĩ Mít hay bác sĩ Xoài, mà gọi là ông Mít hay ông Xoài, thì tự nhiên thấy khó chịu., coi như một sự xúc phạm".

Rồi anh kết luận:

"Mình là những người thường ngày phải va chạm với đủ mọi thứ hạng người. Bị khen chê đủ điều mà còn coi cái mặt của mình to như thế, thì việc bảo các linh mục chấp nhận để nghe gọi mình linh mục và nghe người khác xưng tôi, thì chắc sẽ không làm hài lòng các vị đó đâu".

Nhận xét của người bạn trên đúng về mặt tâm lý. Thiết tưởng nó không chỉ đúng cho những người như anh, như tôi, như chúng ta, mà cũng đúng cho cả giới tu hành nữa. Ở trước công chúng mà được nghe người ta ca tụng, hoặc cung kính cúi đầu vị nể thì dù là tu hành cũng khó lòng tránh khỏi mặc cảm tự tôn. Tự coi mình là quan trọng, là xứng đáng. Một linh mục cao niên, đã có lần nói: "Cụ biết là chúng nó rim rán cụ, ấy thế mà cụ vẫn cứ thích". Linh mục này có ý nói rằng trước những lời xưng hô, ca tụng bề ngoài ấy, vẫn biết phần lớn là giả dối, dua nịnh, nhưng vẫn thích nghe. Và đó là tâm lý tự nhiên của con người. Tâm lý thích được người ca tụng.

Tuy nhiên, không hẳn rằng mọi giám mục Việt Nam, linh mục Việt Nam đều thích lối xưng hô như hiện nay. Và cũng không hẳn rằng mọi người Công Giáo Việt Nam thích lối xưng hô ấy. Vì bằng chứng cụ thể là vẫn có những giám mục, linh mục trong lối xưng hô và nói chuyện không hề quan trọng và coi nặng hình thức. Độc giả nghĩ gì về một mẩu đối thoại như sau: "Anh làm hộ mình cái này được không?" Hoặc: "Trong lần gặp nhau kỳ tới chúng mình sẽ thảo luận thêm về đề tài hôn nhân gia đình. Nhưng anh nhớ phải cho thêm những dẫn chứng cụ thể".

Cung cách đối thoại và lối xưng hô như vậy là một cung cách đối thoại thân thiện, cởi mở và tôn trọng lẫn nhau. Một cung cách cư xử khiến người dưới không thể nào cưỡng lại được mà không tự lòng mình phát ra sự cảm mến. Lúc ấy dù không ai bắt buộc, cũng tự cảm thấy mình rất hãnh diện và sung sướng được làm người "con tinh thần" đối với một người "cha tinh thần" rất quí mến như vậy. Chứ không phải bề ngoài xưng con gọi cha mà trong lòng thì khó chịu: "Chỉ bằng tuổi đứa con út người ta mà một chữ oon, hai chữ con. Một chữ cha, hai chữ cha".

NÊN BẮT ĐẦU TRƯỚC

Tuy nhiên, như đã trình bày, thành phần tín hữu giáo dân nên bắt đầu trước. Vì có thể nói, cái làm nên một truyền thống xưng hô như hiện nay là phần lớn cũng tại tín hữu giáo dân. Do đó, việc sửa lại lối xưng hô ấy người tín hữu cũng phải góp phần chủ động:

1. Từ bản thân:
Bắt đầu từ chính mình trước. Coi đây như một quyết tâm, và tự nhủ với lòng mình về lối xưng hô linh mục/tôi, hoặc linh mục/chúng tôi.

Như đã trình bày, đây là bước đầu của lối xưng hô linh mục và người đối thoại là các Kitô hữu, nên sẽ có những ngượng ngùng, nghĩ ngợi, và lúng túng. Nhưng nếu quyết tâm, rồi ra ta cũng sẽ thấy mình vượt được những ngãng trở này. Nhưng còn đối với những linh mục tuổi tác, quen thân thì sao?

Trong trường hợp một linh mục cao niên, quen thân đến độ nếu gọi linh mục xưng tôi sẽ tạo nên sự hiểu lầm và làm lìa tình cảm, thì trong trường hợp như thế, từ linh mục/con vẫn có thể tạm thời xử dụng, ít là trong chỗ thân mật, riêng tư.

Không những không dùng từ cha/con trong lối xưng hô, mà không dùng từ cha/con trong văn chương, chữ nghĩa. Nếu trong cách nói không xử dụng từ cha/con, thì trong văn chương cũng không nên dùng từ này. Việc bắt đầu bằng văn từ xem ra dễ dàng hơn, vì người viết không phải đối diện với một linh mục, hoặc không phải đối diện với những người nghe không có cùng quan niệm xưng hô như mình.

Văn chương tư tưởng dẫn đến và làm nên triết lý sống của một dân tộc. Như văn hóa đã từng ảnh hưởng đến tâm lý và phong tục, ảnh hưởng của văn chương Công Giáo cũng sẽ góp phần vào việc sửa lại một quan niệm và tập quán xưng hô như hiện nay.

2. Đến gia đình:
Lối xưng hô cha/con phần nào cũng do ảnh hưởng của gia đình, và do đó, việc sửa đổi ấy cũng nên bắt đầu từ trong gia đình.

Ở gia đình, cha mẹ sẽ dễ dàng huấn luyện và cắt nghĩa lối xưng hô xứng hợp để con cái biết và bắt chước. Ông bà nội, ngoại của linh mục không gọi linh mục là "cha" và xưng "con". Cha mẹ không gọi người con linh mục của mình là "cha" và xưng "con". Anh, chị, hay em của linh mục không gọi linh mục là "cha" và xưng "con".

Trật tự và lề lối giáo dục gia đình là điều kiện tốt để gia đình và những người trong gia đình làm quen với lối xưng hô linh mục/tôi hay linh mục/chúng tôi ngoài xã hội. Người con, người cháu dù là linh mục hay giám mục cũng không nên gọi ông bà, cha mẹ, chú bác, cô dì, anh, chị, em mình là "con" và xưng "cha".

3. Và văn hóa sống:
Như vừa trình bày ở trên, nếu tất cả những văn sĩ, thi sĩ Công Giáo nhất loạt dùng từ ngữ linh mục/chúng tôi, hoặc linh mục/tôi trong văn hóa phẩm của mình, thì sức mạnh của tư tưởng sẽ tạo nên một sự đổi mới rất đáng kể, còn hơn một thông cáo của Hội Đồng Giám Mục.

Những gì được lặp đi, lặp lại, và đọc đi, đọc lại trên sách vở, báo chí sẽ có một ảnh hưởng tâm lý thẩm thấu rất đặc biệt. Đây cũng là một lối áp dụng tâm lý để đi vào quần chúng. Một người viết, hai người viết, và nhiều người viết dần dần sẽ ảnh hưởng đến độc giả.


KẾT LUẬN

Tóm lại, những hành động và lề thói khi đã trở thành tập quán, đã trở thành một phần trong sinh hoạt thường ngày của chúng ta nếu muốn sửa lại cũng phải có thời gian. Nó cần phải được lập đi, lập lại dưới hình thức này hay hình thức khác. Việc sửa lại lối xưng hô cha/con trong lãnh vực tôn giáo trong giáo hội như hiện nay là một việc làm đòi thời gian. Nhưng đây không phải là một điều không thể không làm được.