Egypt Israel Oct 2007

2011 Our Lady of Guadualupe




Bấm nút "Download Now"
để cài Windows Media Player. 
Windows Media Player 11
Download Now

Windows Media Download Center
 


Wednesday, June 15, 2005

III. DANH XƯNG TRONG GIÁO HỘI

Trần Mỹ Duyệt


Như tôi đã khẳng định trong 2 bài trước khi viết và bàn về lối xưng hô có liên quan đến những mối tương giao và đối thoại trong Giáo Hội; đặc biệt, trong bối cảnh xã hội của con người thời nay. Khẳng định đó là: Không bao giờ động tới thánh chức linh mục, và cũng không nhắm vào cá nhân linh mục. Vì đó là những điều mà hiển nhiên ai cũng biết không thuộc thẩm quyền phê phán và nhận định của con người. Và nếu làm công việc này với thái độ bất xứng là một điều tội lỗi. Do đó, những gì được trình bày chỉ xoay quanh quan niệm và lối xưng hô mà người Công Giáo Việt Nam hiện đang gặp nhiều rắc rối trước đà tiến của nhân loại, cũng như trước những quan niệm đổi mới về nhân phẩm, nhân quyền, và lề thói suy nghĩ của con người thời đại mà người viết nghĩ rằng đã đến lúc cần phải sửa đổi.

Trở lại danh xưng cha/con mà tôi, và có lẽ một số đông anh chị em tín hữu lúc này, quan niệm rằng, đó chỉ là một lối xưng hô hoàn toàn quen miệng, tập quán, và dĩ nhiên, có đôi chút mặc cảm tự ty và tự tôn trong đó như tôi đã phân tích ở bài trước. Qua bài này, tôi muốn nhấn mạnh thêm về khía cạnh tâm lý xã hội như một yếu tố làm nên tập quán của lối xưng hô quen thuộc ấy.


Thí dụ 1:


- Con xin chào cha Hùng. Cha mạnh khỏe không? Cha từ đâu tới California này vậy?
- Thưa cha, con mới từ Việt Nam qua thăm ông bà cố ở California, và hôm nay con hân hạnh được đến đây gặp cha.
- Thế ông bà cố có mạnh khỏe không? Sao có con làm cha mà dấu kỹ thế, hôm nay mới cho biết vậy?
- Cám ơn Chúa, cám ơn hai cha, chúng con vẫn mạnh khỏe. Chẳng dấu gì hai cha, cha nhà con đây mới chịu chức. Chúng con định bao giờ cha qua thì chở ngài đến thăm cha và luôn tiện giới thiệu ạ.
- À! Thế ra cha mới chịu chức. Vậy ông bà cố đã đưa cha con đây đi tham quan đâu chưa? Ở California này có nhiều chỗ đẹp lắm, lúc nào rỗi chở cha đi một vòng đi.
- Dạ, cám ơn cha chỉ bảo, chúng con đã nói với mấy con con bao giờ chở cha đi, nhưng chúng nó nói rằng, cái đó còn tùy nơi ngài ạ.

Câu truyện trao đổi, dù mang tính xã giao trên, từ cha, mẹ, con, và linh mục hầu như không ý thức được vai trò, vị thế, và chỗ đứng của mình trong xã hội. Họ đã để cho một tập quán vô thức khởi động họ và ảnh hưởng đến cách xưng hô của họ. Một người con làm linh mục thì gọi là “cha”, những người con khác thì gọi là “chúng nó”. Con trước khi chưa làm linh mục và sau khi làm linh mục cũng vẫn là con, nhưng nay lên chức “cha” và chức “ngài”. Bố mẹ trước đây bây giờ xuống trở thành “con”. Và cha nọ làm con cha kia. Tập quán ấy đã làm họ đảo lộn một cách máy móc và gò gượng những vai trò và địa vị xã hội cũng như giáo hội cần phải có để tôn trọng phẩm giá và con người của nhau.

Thí dụ 2:


- Xin kính chào quí đức ông, quí cha, quí tu sĩ nam nữ. Trước hết, con xin được tự giới thiệu con là cha Thanh đang làm việc tại Louisiana, hôm nay vì vâng lời bề trên, nên đứng ra điều hợp buổi hội thảo này. Vậy trước khi chúng ta chính thức bước vào buổi hội thảo, xin đi một vòng tự giới thiệu và làm quen. Trước hết, quí đức ông, quí cha, quí tu sĩ nam nữ hãy cho biết tên, rồi đến nơi và địa sở hoạt động hiện thời.
- Vâng, kính thưa quí đức ông, quí cha và toàn thể anh chị em tu sĩ nam nữ. Để tiếp tục, con xin tự giới thiệu, con là cha Toan đến từ New York và đang làm quản nhiệm một cộng đoàn Việt Nam khoảng chừng 100 giáo dân. Ngoài ra, còn làm phó xứ một giáo xứ Mỹ.
- Con là đức ông Chương hiện làm chính xứ tại họ đạo Lương Diệm, đến từ Việt Nam. Con xin kính chào quí cha, và quí tu sĩ nam nữ tham dự đại hội.
- Con là xơ Madalena thuộc dòng Máu Thánh Chúa ở Louisiana.
- Con là thầy Đương đang học thần học năm thứ 3.

Không những đối với thành phần giáo dân, ngay cả giới tu hành cũng đã bị ảnh hưởng của lối xưng hô cha/con trong những sinh hoạt xã hội thường ngày của họ. Trong lối xưng hô của họ, những từ như đức cha, đức ông, cha già cố, cha cố, cha, thầy, xơ, rồi lại con, cứ thế luẩn quẩn trong cung cách “mặc áo thụng lậy nhau”. Và người ta tự hỏi, xưng hô như vậy mang ý nghĩa gì? Nếu linh mục gọi linh mục khác là cha và xưng con, thì giáo dân phải gọi linh mục, đức ông là gì, giám mục là gì và xưng mình là gì?

Và câu trả lời là với lối xưng hô như hiện nay, rõ ràng thành phần tu trì đang bị lấn cấn trong cái ảnh hưởng của tập quán và truyền thống mà chính họ đã thấm nhiễm ngay từ còn là một em bé.



Thí dụ 3:


- Thưa thầy. Khoảng mấy năm nữa thì Chúa cất nhắc thầy lên chức linh mục?
- Ồ! Năm nay con học năm thứ 3 thần học. Nếu không có gì trục trặc thì bằng rầy sang năm con sẽ chịu chức Sáu, và sau đó khoảng nửa năm thì sẽ chịu chức linh mục.
- Cám ơn Chúa! Như vậy là chỉ chừng vài năm nữa, thầy lẽ lên chức cha rồi. Vậy sau khi làm cha, thầy đã biết coi xứ nào chưa?
- Chưa biết. Cái đấy còn tùy Đức Cha, và cha quan thầy của con. Cũng có thể con sẽ về xứ mình phụ với cha già cố cũng chưa biết chừng.
- Như vậy là vui và có phúc lắm. Xứ mình có hai cha, cha già cố và cha nữa lúc đó tha hồ mà vui.

Từ con đến thầy. Rồi từ thầy đến cha. Và rồi lại trở về con. Thầy của giáo dân. Con của cha già cố. Con của các linh mục khác. Và cha của cộng đoàn dân Chúa. Như vừa trình bày ở thí dụ 2, chính thành phần tu hành cũng đang phải đối đầu với những vấn nạn về lối xưng hô của họ. Một lối xưng hô rất lộn xộn và thiếu hẳn tính tự tin về con người, vai trò, và địa vị của mình ngoài xã hội cũng như trong giáo hội.

Điều lạ lùng trong những lối xưng hô ấy, là dường như cũng không ai để ý và thắc mắc. Cứ thế ai sao mình vậy, nói vì quen miệng, hoặc nói như người khác nói, vì nếu không sẽ bị trách cứ.



- Thưa cha, con là đức ông...
- Thưa cha già, con là đức cha...
- Thưa đức ông, con là cha...
- Thưa cha già cố, con là cha...
- Thưa cha, con là cha...
- Thưa cha, con là thầy...
- Thưa cha, con là xơ...
- Thưa cha, con là ông cố...
- Thưa ông cố, bà cố, con là cha...


Cha già cố, đức ông, đức cha, cha, thầy, con. Những từ ngữ này được dùng hết sức lủng củng và bất nhất. Đức ông cũng xưng con. Đức cha cũng xưng con. Cha già cố cũng xưng con. Cha cũng xưng con. Thầy cũng xưng con. Xơ cũng xưng con. Ông bà cố cũng xưng con. Rồi cũng chính những người “con” ấy lại trở thành “ông cố, bà cố” “đức ông” “cha già cố” “cha” “thầy”, và “xơ”. Một người ngoài Công Giáo chắc chắn sẽ không thể hiểu được, và cũng không dễ gì cắt nghĩa để họ hiểu. Một lối xưng hô theo kiểu “sinh con rồi mới sinh cha. Sinh cháu giữ nhà rồi mới sinh ông” như vậy mà tại sao lại được mọi người xử dụng thì điều này chỉ có thể cắt nghĩa bằng tập quán, và truyền thống.

Tập quán là hành động làm đi làm lại nhiều lần. Nhiều lần làm một việc sẽ trở thành quen, và khi thói quen ấy đi vào sinh hoạt của một người, hay của một cộng đồng, một dân tộc nó trở thành tập quán hay truyền thống. Lối xưng hô cha/con hoặc con/cha hiện nay cũng chỉ là một lối xưng hô đã trở thành tập quán. Ưu điểm của tập quán là biến một hành động nào đó trở thành máy móc, và có thể phản xạ một cách tự nhiên. Nhưng khuyết điểm của nó là biến hành động của một người mất đi cái ý thức và sự can thiệp của lý trí. Loại bỏ giá trị nhân tính ra ngoài hành động. Thí dụ, chớp mắt là một phản xạ tự nhiên, rất máy móc và không cần phải suy nghĩ.

Ngoài ra, tập quán ấy lại được dung dưỡng bởi quan niệm và lối sống của xã hội từ trước đến nay, khiến nó đã mặc nhiên đi vào dòng sinh hoạt của Giáo Hội Công Giáo Việt Nam với lối xưng hô cha/con, đức ông, ông cố, bà cố, cha già cố, cha cố và rồi trở lại con như vậy. Tập quán ở một người nay biến thành truyền thống của một nhóm người và của tập thể.

Thiết tưởng lúc đầu lối xưng hô cha/con như thế, và được xưng hô như thế cũng không hẳn đã làm hài lòng hoặc thích thú đối với nhiều người. Nhưng do ảnh hưởng xã hội và lối sống chung của Giáo Hội đã từ từ thấm nhập và một lúc nào đó đã trở thành nên lối xưng hô của chính mình.

Và như vậy, nếu gọi linh mục là bác, chú, anh, em, và xưng là tôi, em, cháu, hoặc con theo tuổi tác, địa vị xã hội không thể bị coi là một lối xưng hô bất kính, thiếu kính trọng, phạm sự thánh. Nó càng không phải là một lỗi lầm hay sai trái gì như một linh mục đã cho rằng “chức cha” có nguồn gốc thần học và tín lý. Thật ra, nếu nói chức linh mục có nguồn gốc từ thần học, và được mặc khải từ Thánh Kinh là đúng, chứ nói chức cha mà qua đó, tín hữu gọi các linh mục là cha có nguồn mạch Thánh Kinh và tín lý thì đó là điều suy diễn quá xa, nếu không dám nói là không hợp lý.

Đối với một số tín hữu, nhất là giới muốn sửa đổi và năng nổ trong giáo hội, thì câu nói sau đây của một giám mục được đón nhận một cách niềm nở và phấn khởi: “Mai đây các thầy sẽ chịu một chức gọi là chức mất dậy. Vì sau khi đã là linh mục rồi, thì thường là không muốn nghe ai nữa, và như thế, sẽ trở thành mất dậy”. Câu nói bất hủ này người thì bảo là của Giám Mục Nguyễn Huy Mai, người thì cho là của Giám Mục Nguyễn Khắc Ngữ. Nhưng dù là của ai đi nữa, thì đây cũng là một câu nói để đời “danh bất hư truyền”.

Tiếc thay, câu nói trên cho đến nay vẫn còn đúng, ít nhất là qua lối xưng hô và phong cách sống của nhiều người trong thành phần tu hành, mà dù một số tín hữu thiện chí có muốn đóng góp phần tích cực của mình vào việc xây dựng và sửa đổi Giáo Hội, vẫn bị cái thành trì kiên cố kia ngăn chặn lại. Nhưng dù có vững chắc và được đề phòng cẩn mật như bức tường Bá Linh ngăn chia nước Đức sau Đại Thế Chiến II, thì sớm muộn với những đóng góp tích cực và cùng với sự đáp ứng nhiệt tâm của hàng giáo phẩm, giáo sĩ, tu sĩ, và giáo dân, bức từng cha/con ngăn cách kia rồi cũng có ngày sụp đổ. Điều cần thiết là chúng ta phải mở rộng lòng mình cho Chúa Thánh Thần làm việc bằng thái độ lắng nghe và hợp tác.