Egypt Israel Oct 2007

2011 Our Lady of Guadualupe




Bấm nút "Download Now"
để cài Windows Media Player. 
Windows Media Player 11
Download Now

Windows Media Download Center
 


Wednesday, June 15, 2005

II. DANH XƯNG TRONG GIÁO HỘI

Trần Mỹ Duyệt

Trở lại vấn đề danh xưng “cha-con”. Một lối xưng hô như tôi đã đề cập ở bài trước là đã có một bề dầy lịch sử. Nó đã tiềm tàng và ăn sâu vào cốt tủy của người Kitô hữu Việt Nam, và không hẳn là chỉ các Kitô hữu, mà cả thành phần giáo sĩ, tu sĩ. Do đó, nếu hôm nay đề cập đến vấn đề này, là tự nhiên va chạm vào một cách hành xử và lối xưng hô đã thành tập quán. Hành động này ít nhiều không làm vui lòng những ai vốn tự cho mình xứng đáng phải được xưng hô như thế, cũng như không thuận miệng và lề thói suy nghĩ của thành phần tín hữu vốn đã quen miệng xưng hô cha con trước đây.

1. ĐƯỢC GÌ VÀ MẤT GÌ?

Thật ra khi bỏ lối xưng hô cha/con cả hai phía linh mục cũng như tín hữu chẳng mất gì. Linh mục vẫn là linh mục. Tín hữu vẫn là tín hữu. Dù gọi là “cha”, “cụ”, “ông cố” hay “linh mục”, thì tự nó vẫn không làm cho người mang thánh chức ấy mất đi cái đặc tính của bí tích truyền chức. Họ vẫn là “linh mục đời đời theo dòng Menkisede”. Và tín hữu vẫn là tín hữu vĩnh viễn, trừ khi người tín hữu nào đó được Thiên Chúa mời gọi bước vào ơn gọi tu hành, và rồi cũng trở thành linh mục, giám mục, hồng y, hay giáo hoàng.

Tuy nhiên, cái mà cả hai cùng đạt được qua lối xưng hô mới đó là tăng thêm nhận thức giá trị về ơn gọi của mỗi bên. Tạo điều kiện cho những giao tiếp hỗ tương được trưởng thành và có chiều sâu tâm linh. Sau cùng về mặt xã hội, mối giây thân tình và cởi mở ấy còn là một lời mời gọi và thúc đẩy để tiến tới sự hiệp nhất và chinh phục những tâm hồn thiện chí.

a- Nhận thức về giá trị ơn gọi:

Khi linh mục tự nhận mình là linh mục, thì qua nhận thức ấy sẽ làm cho vị này hiểu và thâm tín hơn về ơn gọi của mình. Mình được mời gọi để trở thành một mục tử tinh thần, và để thừa hành các bí tích. Mình được thụ phong “linh mục”, chứ không được thụ phong làm “cha”. Những người được phụ phong làm cha chính thức, là những người được mời gọi sống đời “ơn gọi hôn nhân gia đình”. Thứ sáu là phép truyền chức thánh. Thứ bẩy là phép hôn phối, mà một linh mục còn gọi là phép thánh hôn và thánh chức. Tóm lại, linh mục không được giao phó cho trách nhiệm làm cha theo kiểu thể lý. Sự hiểu biết này không cho phép vị linh mục lầm tưởng, hoặc đôi khi mơ màng đến một hình thức làm cha của một người hay cha của một giáo xứ.

Phần các Kitô hữu khi gọi các linh mục là “linh mục”, và xưng mình là tôi hay chú, bác, cô, dì, hoặc em vẫn không loại bỏ sự kính trọng qua thiên chức. Và như vậy, cũng sẽ làm cho niềm tin và ý thức ơn gọi của họ trưởng thành thêm. Bằng lòng, và hãnh diện về ơn gọi của mình, cũng như kính trọng và yêu mến ơn gọi của những bậc tu trì. Quan niệm sống đời hôn nhân mà mơ ước đời tu trì hay ngược lại, là quan niệm và lối sống thiếu trưởng thành cả về tâm lý và tâm linh. Trong một lần trao đổi tư tưởng về hai lối sống này, Giám Mục Mai Thanh Lương đã nêu lên nhận xét: “Nhiều Kitô hữu không sống nên và hạnh phúc với ơn gọi mình, nhưng lại mơ màng muốn sống và trở thành như những bậc tu hành”. Chúng ta đã thấy phản ảnh câu nói này qua quan niệm và lối sống của nhiều Kitô hữu Việt Nam. Thí dụ, trong nhà có con em ước ao dâng mình trong cánh đồng truyền giáo của Chúa, thì không khuyên bảo hãy luyện tập và sống thánh với ơn gọi của mình; nhưng thay vào đó, thường khuyên bảo: “Thôi con hay cháu hãy cố tu để sau này nên giống, nên má, thà làm con chó nhà Đức Chúa Trời còn hơn làm người thế gian”. Lời khuyên này, rõ ràng đã cho thấy có sự lẫn lộn và mặc cảm, hoặc thiếu ý thức về ơn gọi của mình.

Trong tâm lý học, khi một người mắc bệnh tự ty mặc cảm, thì câu đầu tiên các nhà tâm lý trị liệu muốn bệnh nhân ấy nói là “tôi”. Tôi chứ không phải cháu, con, hay bất cứ từ ngữ nào khác. Vì trước hết, phải làm cho bệnh nhân nhận ra rõ ràng cái tôi của mình. Cái tôi rất thật bao gồm cả ưu và khuyết điểm. Sau đó, mới hướng dẫn bệnh nhân chấp nhận và đối diện với cái tôi ấy. Và đây là bước khó nhất, vì thường những người mặc cảm, thiếu tự tin không đối diện với mình, nhưng thường là muốn sống nhờ vào cái bóng hình ảo tưởng hay ảo giác nào đó. Và vì thế khi thực tế va chạm và thực tế bị tiết lộ, lập tức họ phản ứng tiêu cực và tìm cách tránh né.

Gọi linh mục bằng cha. Linh mục muốn tín hữu gọi mình bằng cha đôi khi cũng rơi vào mặc cảm này. Một đàng muốn đánh bóng và thổi phồng thần tượng để ít là tránh đi cái mặc cảm thua thiệt. Một đàng muốn sống nhờ vào ảo tưởng ấy để phần nào không phải nhìn ra điều mà mình cần phải đối diện. Như vậy, cả cha lẫn con cũng chỉ luẩn quẩn trong cái ảo tưởng và ảo giác về vai trò và chủ đích của mình.

Khi linh mục tự giới thiệu và hãnh diện về ơn gọi và thiên chức của mình. Thí dụ, tôi là linh mục D, chào ông, bà, cô, chú, em, thì cái tâm lý của người nói câu đó sẽ khác hẳn so với câu: “Cha chào con”. Hoặc khi một Kitô hữu xưng hô với vị linh mục: “Chào linh mục chính xứ. Chào linh mục phó xứ. Chào linh mục A” thì tâm lý và lối xưng hô ấy khác hẳn với cung cách xưng hô: “Con xin chào cha”.

b- Giao tiếp trưởng thành:

Trong cung cách và xã giao thường ngày, như vừa trình bày trên, từ cha/con thường chỉ dùng cho những người thân trong gia đình, giữa cha mẹ và con cái. Ít khi từ này được dùng ngoài trừ trong phạm vi tôn giáo cho một người mà người đó không phải là đấng sinh thành ra mình.

Vậy khi linh mục gọi người tín hữu bằng danh xưng bác sĩ, kỹ sư, luật sư, tiến sĩ, giáo sư, hoặc các vai vế xã hội trong cách xưng hô thường ngày như ba, má, anh, chị, em, sẽ tạo nên một lối sống và phong cách kính trọng, hài hòa. Điều này phù hợp với những gì mà các linh mục vẫn thường xuyên khuyên nhủ là kính trên, nhường dưới, tôn ty, trật tự, lễ nghĩa, xã giao. Nhưng khi vị linh mục, nhất là linh mục trẻ mà dùng từ xưng hô cha/con với những người mà nhẽ ra họ là bậc ông bà, cha chú, cô dì, và anh chị mình thì khó tìm được ý nghĩa khiêm nhường và từ tốn để giải thích, mặc dù các vị này có muốn khiêm nhưỡng và từ tốn.

Tâm lý trưởng thành trong cách thức xưng hô như tôi vừa trình bày ở trên, không làm cho vị linh mục mất đi giá trị và địa vị của ơn gọi, ngược lại, càng làm tăng thêm uy tín và giá trị ơn gọi ấy. Người ta sẽ kháo láo với nhau: “Linh mục B khiêm tốn và biết trên biết dưới”. Khác với những nhận xét tiêu cực: “Chỉ đáng tuổi con, cháu mà xưng cha gọi con. Không ra cái giống gì”.

Thật vậy, nếu linh mục sống thật với thánh chức của mình, cộng thêm biết xã giao, và tế nhị thì quả là hiếm quí. Ai dù khó tính đến đâu cũng không thể nào không nhìn nhận được điều này, vì một xứ đạo mới có một linh mục, thì con số ít ỏi ấy, và vai trò mô phạm ấy hiển nhiên có một giá trị rất cao trong tâm lý xã hội và trong đời sống tâm lý tập thể.

Không biết có nên thêm rằng, vì quá trẻ hoặc thiếu kinh nghiệm xã giao, nên tư cách và cung cách xã giao, hội nhập xã hội của nhiều linh mục đã tạo nên nhiều dị nghị không những nơi phía các tín hữu Công Giáo mà còn cả nơi thành phần ngoài tôn giáo. Cung cách cha chú và lối cư xử trịch thượng, cộng thêm những phán đoán chủ qua dựa vào thế giá của thánh chức đã làm nhiều người khó chịu. Tại những chủng viện ngoại quốc có những lớp tâm lý, nhưng có lẽ tại Việt Nam những khóa học này xem ra như không có, hoặc chưa được đào tạo hẳn hoi. Thí dụ tâm lý quần chúng để coi xem khi một người lãnh vai trò hướng dẫn và thủ lãnh phải có thái độ nào để thu hút và đạt được cảm tình của quần chúng. Đầu tóc, áo quần, cung cách và lời nói.

Không những từ cha/con thường tạo nên những hiểu lầm và ngộ nhận giữa thành phần linh mục và tín hữu giáo dân, mà ngay cả giữa các linh mục, hàng giáo phẩm cách xưng hô này cũng tạo thành khó hiểu, và như chỉ là một thói quen mà người nói và người nghe không mấy ý thức. Thí dụ, hồng y này gọi hồng y khác là hồng y và trở lại xưng con. Một giám mục này gọi một giám mục khác là giám mục và trở lại xưng con. Một linh mục này gọi linh mục khác là cha và trở lại xưng con. Tại sao không là “tôi”. Tại sao không là “em”. Vì Chúa đã gọi các Tông Đồ là bạn hữu: “Thầy không gọi anh em là tôi tớ, mà là bạn hữu”. (Gioan 15:15). Tất cả các con đều là anh em, vậy nếu xưng hô khác thì rõ ràng chỉ là một lối xưng hô quen miệng đã trở thành tập quán.

c- Thu hút và truyền giáo:
Nếu dùng từ cha/con trong lối xưng hô giữa linh mục, giám mục đã làm ngăn trở không chỉ đối với thành phần Kitô hữu mà còn ảnh hưởng đến những giao tiếp bên ngoài; như vậy, liệu nó có ảnh hưởng gì đến việc truyền giáo, và thú hút những người ngoài Công Giáo hay không? Thời còn trẻ, tôi vẫn thường được nghe một số lương dân quanh vùng gọi mấy linh mục, và giám mục là “Ông Trời của người Công Giáo”. Mới nghe, và mới nhìn vấn đề, ta tưởng rằng như vậy sẽ thu phục và chinh phục được nhiều người theo đạo Chúa. Nhưng đây là một quan niệm sai lầm. Vì tâm lý tự nhiên sẽ cho ta thấy rằng, không phải chức vụ, không phải vì quyền bính, và không phải vì có quyền lực trong tay mà chinh phục hay bắt ép người khác phải suy phục mình, nhưng là lòng khiêm tốn, từ tâm, và thông cảm.

Lịch sử Giáo Hội đã cho thấy ảnh hưởng này trong mối tương quan với các tôn giáo bạn, nhất là anh em Kitô Giáo tách ly. Có lẽ vì nhận ra mình có lỗi, nên Đức Gioan Phaolô II, một Giáo Hoàng cao cả nhất trong chiều dài lịch sự Giáo Hội đã đấm ngực ăn năn, và đã khiêm tốn xin lỗi. Và chúng ta thấy rõ ràng điều này trong cung cách và văn phong của Ngài ngay trong cách xưng hô với mọi người. Ngay từ thời Giáo Hoàng Phaolô VI, Ngài đã không dùng từ “ta”, nhưng là “chúng tôi” trong hầu hết những gì chúng ta đọc được. Và truyền thống đổi mới này đến thời Đức Gioan Phaolô II, đã trở nên rõ ràng: “John Paul Two, I love you” - Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, cha yêu các con”. Đã làm cho hằng triệu bạn trẻ cảm thấy sung sướng, và phấn khởi. Nhưng “cha đã bảo ông ta rồi.” Hoặc “cha bảo sao thì hãy làm đi” của một linh mục trẻ phát biểu trong một buổi họp hội đồng giáo xứ thì không đem lại tiếng reo vui nào trong tâm hồn những người nghe cả. Ngược lại, có thể là những cảm nghĩ tiêu cực.

Đối với đồng đạo, lối xưng hô và cung cách như trên mà đã không chinh phục và hấp dẫn, thử hỏi, đối với những người không cùng tôn giáo làm sao chinh phục. Bởi đó, tâm lý sống và thực hành ấy chỉ luẩn quẩn chung quanh thánh đường, hoặc rộng hơn là quanh sân nhà thờ qua một vài buổi rước kiệu. Một vị linh mục sống nhiều năm lăn lộn với các dân tộc sống ngoài Công Giáo đã phát biểu: “Cho đến nay, phần lớn người tín hữu Công Giáo và Giáo Hội cũng chỉ lo sống đạo, chứ chưa hành đạo”. Đức Gioan Phaolô II đã nhìn ra được quan niệm và lối sống ấy, nhất là thành phần trở lại Tin Lành, và các tôn giáo khác tại Phi Châu, Á Châu hiện nay, nên đã không ngần ngại làm bất cứ điều gì ích lợi cho Giáo Hội và các linh hồn. Một trong những điều ấy là đại kết liên tôn, hòa đồng và đối thoại liên tôn. Nhưng nếu Giáo Hội đã kêu gào, đã khởi động, mà tại mỗi địa phương vẫn cứ sống và hành động một cách máy móc, quan cách, kênh kiệu kiểu cha/con, thử hỏi làm sao chinh phục và hấp dẫn. Làm sao để có khả năng lôi kéo. Người ta sẽ lấy dấu gì mà nhận biết các con là môn đệ thầy?!!

2. AI BẮT ĐẦU TRƯỚC

Tuy chỉ là một lối xưng hô và lối sống theo truyền thống và lâu đời, nhưng nếu sửa đổi và chấp nhận canh tân, dĩ nhiên đòi sự chấp nhận và hy sinh. Vì không có gì bỏ đi, hoặc sửa chữa mà không có sự hy sinh và thời gian.

a- Thầy đã làm gương:
Nhưng có lẽ để sửa đổi lối xưng hô này, hàng giáo phẩm và các linh mục cần làm trước. Gương sáng và việc làm của các vị ảnh hưởng rất nhiều trên các tín hữu. Nếu các ngài nói và cho phép thì mọi sự sẽ dễ dàng, vì vốn dĩ tâm lý chung giáo hữu Việt Nam vẫn có lòng kính trọng các “cha”, các “thầy”. Và “cha nói là Chúa nói”. Đến việc chào hỏi mà còn “con xin phép chào cha”, “con không dám xin phép lạy cha”, thì việc xưng tôi, xưng chú, chím, cháu, em với “cha”, và gọi “cha” bằng bác, bằng chú, bằng cậu, hoặc bằng em, hay bằng linh mục, thì không ai dám làm trừ khi được “cho phép”. Bởi đó, sự khởi đầu phải được bắt nguồn từ hàng giáo phẩm đến các linh mục.

Hàng giáo phẩm chỉ cần ra một thư luân lưu chung và giải thích cách xưng hô. Linh mục các giáo phận xưng hô lại với nhau bằng tiếng anh em, linh mục. Linh mục tại mỗi địa sở cắt nghĩa việc xưng hô và thực hành như vậy, thì đối với các tín hữu lối xưng hô, và hành động tương giao giữa linh mục, giáo dân, giáo hữu sẽ không khó. Tóm lại, theo chủ quan người viết, cái khó không phải là từ phía tín hữu hay giáo dân, mà là thành phần trong giáo phẩm và linh mục.

b- Môi trường huấn luyện:
Tại các đại chủng viện, các linh mục giảng sư và linh mục linh hướng có thể truyền bá tư tưởng và lối xưng hô này. Trong thời gian huấn luyện, nếu các chủng sinh học được từ những bậc thầy mình lối xưng hô và được dậy phải xưng hô như vậy, thì mọi sự dễ dàng hơn.

Thời còn làm một tiểu chủng sinh, ngồi ăn chung với các chú trong một nhà cơm mà thấy lòng mình chua xót. Cơm ở nhà ăn không hết mà ở chủng viện lại phải ăn vội, ăn vàng vì nếu không sẽ hết phần. Ngược lại, ở bàn trên các linh mục giảng sư, các linh mục linh hướng thì ê hề rượu thịt. Cứ thế mà nhâm nhi, cứ thế mà thoải mái, khiến bọn chủng sinh không những không được ăn, mà còn phải ngồi chờ các đấng dùng bữa. Tôi cho đây là một sự đầy đọa, trừng phạt tâm lý kinh khủng và là một ấn tượng giai cấp, một bài học, một lối huấn luyện giai cấp nặng nề nhất. Vì nếu may mắn, chỉ trong vòng ít năm sau, một ai đó trong chúng tôi vượt qua được ngưỡng cửa chủng viện, lúc đó “làm cha” rồi thì bổn cũ sẽ xào lại. Và lúc đó đừng nói đến lối xưng hô cha/con, mà còn cả một lối sống đế quốc, bảo hoàng hơn vua sẽ được áp dụng. Đó chỉ là một trong những tâm sự của những ai đã từng có thời sống dưới mái nhà tiểu chủng viện.

c- Các cơ quan ngôn luận:
Các cơ quan ngôn luận, những nhà cầm bút, nếu tiếp tay vào chiến dịch này vẫn có thể là một đóng góp rất lớn lao. Thí dụ, không dùng từ “Đức Giám Mục Gioan” mà là “Giám Mục Gioan”. Không viết “cha Giacôbê” mà là “linh mục Giacôbê”, linh mục chính xứ thay vì cha xứ... trong văn phong của mình, và như vậy, lối xưng hô và viết ấy ttên văn bản, trên các cơ quan truyền thông đại chúng sẽ là một cuộc sửa đổi ảnh hưởng suy tư và lối sống của người tín hữu.

KẾT LUẬN:

Những tư tưởng trên và những tư tưởng đã được trình bày trong bài DANH XƯNG TRONG GIÁO HỘI trước, điều được viết ra và trình bày với tất cả lòng kính phục thánh chức và phẩm chức linh mục. Không phải là con người linh mục, mà chỉ là lối xưng hô đã trở thành không hợp thời, và ngăn trở cho vấn đề giao tế thường ngày, sự hội nhập của Giáo Hội vào với xã hội đang trong đà đổi mới về tư tưởng, quan niệm và lối sống cần được cập nhật hóa, sửa đổi và thay thế.

Ước mong những đóng góp này sẽ tạo nên bầu khí cởi mở, chân thành, hợp nhất, quí trọng và trưởng thành của mọi ơn gọi và phần tử của Giáo hội. Và qua đó, bộ mặt của Giáo Hội, và bộ mặt của Chúa Giêsu được mọi người biết đến, để Thiên Chúa được vinh danh, và phần rỗi các linh hồn. Do tâm tình thành kính và xây dựng, tác giả mong đón nhận những ý kiến đóng góp với chiều hướng xây dựng.

Trần Mỹ Duyệt