Egypt Israel Oct 2007

2011 Our Lady of Guadualupe




Bấm nút "Download Now"
để cài Windows Media Player. 
Windows Media Player 11
Download Now

Windows Media Download Center
 


Wednesday, June 15, 2005

VĂN HOÁ VÀ TƯƠNG QUAN GIỮA GIÁO SĨ VÀ GIÁO DÂN

Phong Trần


Một sáng sớm mùa đông Canada, tuyết vẫn còn phủ trắng, cao đến mắt cá chân trên các lối đi. Bà Catherine, bà bếp cha sở, bước chầm chậm và cẩn thận quay về nhà xứ sau thánh lễ ban sáng. Vừa đặt chân trên bậc thềm nhà xứ, thấy tôi đang quét tuyết bà vui vẻ chào tôi và bảo:

“Peter! Mang cây chổi quét tuyết tới đây.” Tôi tươi cười tiến tới gần bà với cây chổi quét tuyết đu đưa trên tay, chưa đoán ra bà muốn nhờ tôi chuyện gì. Bà Catherine tự nhiên kéo cái váy đầm cao lên một chút và chìa đôi giày bám đầy tuyết thản nhiên bảo tôi: “Lấy chổi phủi dùm tuyết bám giày, để tôi vào không làm dơ thảm nhà xứ!”


VĂN HÓA TÂY

Đọc bài “Tâm Sự Một Linh Mục” của linh mục Peter Trần Thế Tuyên, Dấn Thân số 2, tháng 3 năm 2003, tôi rất thích thú vì những cảm nghĩ chân thành và phản ứng “rất người,” nếu không muốn nói là rất “”Việt Nam’ của cha, khi “bị” một giáo dân da trắng gọi mình bằng tên “Peter” trống rỗng, thay vì cung kính gọi bằng “Father Peter,” “Father Tuyên,” hay “Father Tran.” Chẳng những thế, bà đầm già này còn “cả gan” dám sai cha “lấy chổi phủi giùm tuyết bám giày ” của bà!

”Gọi một linh mục bằng tên, thiếu lòng đạo đức rõ ràng. Bảo một linh mục phủi tuyết bám giày, thiếu lòng kính trọng chức thánh không thể chối cãi.”

Cha “hung hăng đứng lên, định đi tìm bà Catherine và Đức Ông Robert để làm lớn chuyện, làm cho ra lẽ.” Cha tức giận, vung mạnh tay... khiến cây thánh giá trên bàn làm việc rơi xuống sàn nhà. “Chúa nằm úp mặt trên thảm, một cánh tay gãy lìa thân... Cánh tay còn lại tòn ten nhờ đinh đóng chặt .” Thật thảm thương! Hình ảnh nầy đập vào mắt, xoáy vào tim khiến cha hồi tâm, tỉnh thức và nhớ lại thiên chức linh mục của mình, một thiên chức để phục vụ tha nhân mà dường như cha đã quên đi và chỉ còn nhớ cái tước vị “cha!”

”Chúa Ki-tô, linh mục thượng phẩm, đang dang tay hiến tế chính mình trên thánh giá. Tôi, một linh mục, một Chúa Ki-tô khác, tôi dang tay dâng lễ hằng ngày trên bàn thờ. Nhiều khi tôi dang tay nhưng không dâng hiến, không ban phát, không cho đi nhưng đòi hỏi: đòi được kính trọng đặc biệt, đòi được gọi bằng ‘cha’ cho thỏa lòng. Tôi làm linh mục, một Chúa Ki-tô khác, nhưng đôi khi tôi thật khác Đức Ki-tô. Chúa Ki-tô đến để phục vụ, còn tôi, tôi sôi máu tức giận khi phải phục vụ.”

Bà Catherine đã thực sự giúp cha Tuyên trở về căn tính đích thực của thiên chức linh mục, phục vụ người thay vì để người phục vụ: “Suốt năm tháng qua từ ngày chịu chức, tôi đã ‘làm cha.’ Hôm nay tôi mới thực sự ‘làm linh mục.’ ”

Linh mục Tuyên làm phó xứ cho Đức Ông Robert ở một xứ đạo ở Canada, và bà Catherine là người chăm lo việc nấu ăn ở nhà xứ.


VĂN HÓA TA

Tôi cảm phục những dòng tâm sự chân tình của cha Tuyên. Tôi cũng tin Giáo Hội Chúa không thiếu vắng những linh mục, tu sĩ chọn con đường hy sinh tận hiến, phục vụ tha nhân làm lý tưởng sống đời mình, từ bỏ tất cả để theo Người.

Thế nhưng, vẫn còn rất nhiều điều phải nói lên... Không phải linh mục Việt Nam nào cũng được “may mắn” như cha Tuyên, cũng có “duyên cơ” gặp bà đầm Catherine, rồi “giác ngộ” trở về với vai trò thực sự của mình. Dù không chút nghi ngờ gì về sự tốt lành của linh mục, tôi tự hỏi nếu không phải là bà đầm Catherine mà là một phụ nữ Việt Nam trong trường hợp trên, hoặc đang trông coi một cộng đoàn, giáo xứ Việt Nam, cha Tuyên hay một linh mục Việt Nam nào khác sẽ phản ứng ra sao? Vui vẻ hay ngại ngùng làm theo lời yêu cầu của bà bếp? Quát mắng, đuổi đi? Cố dằn cơn nóng giận rồi tìm cách cho bà bếp nghỉ việc sau?... Có phụ nữ Việt Nam nào dám “thản nhiên” hành động như bà Catherine không?

Điều không ai có thể chối cãi văn hóa Việt Nam là nền văn hóa trọng hệ cấp, thứ bực, chức tước, quyền hành... Và chính điều này đã ăn sâu vào não trạng, tâm thức của mỗi người Việt Nam thuộc mọi thành phần xã hội, kẻ trên cũng như người dưới, trong đạo cũng như ngoài đời.

Nhiều cái gọi là “văn hóa” thật ra chỉ là những lề luật, khuôn phép, nguyên tắc, cung cách cư xử, phong tục, tập quán... do thành phần có quyền, có chức, có thế đặt ra để làm lợi, củng cố uy thế, ảnh hưởng của mình. Người dân lành thấp cổ, bé miệng không còn cách nào hơn là vâng phục, tuân giữ, hết thế hệ này sang thế hệ khác, như một thói quen, không suy nghĩ đúng sai. Người được lợi trong nếp sống văn hóa đó thì luôn hô hào, cổ súy bảo tồn, phát huy, vừa hưởng lợi vừa được tiếng là biết gìn giữ di sản tổ tiên, truyền thống văn hóa của dân tộc!

Nhiều khi chỉ vì sự cầm buộc vô lý của lề luật mà hết thế hệ này đến thế hệ khác, phải noi theo để không bị dư luận người đời lên án là “lỗi đạo nghĩa,” “trái luân thường.”

Xưa kia, dưới chế độ phong kiến, chính những người cầm quyền cai trị – vua chúa, quan lại – đã dùng quyền hành tuyệt đối của mình để tạo nên những luật lệ quái đản như cấm dân chúng không được sử dụng những chữ trùng với tên họ của hoàng tộc; một số kiểu y phục và màu sắc chỉ dành riêng cho vua, quan lại nhất phẩm, nhị phẩm... của triều đình. Nhiều sĩ tử đã phạm trường quy – phạm húy – và do đó bị đánh hỏng vì đã vô ý dùng những chữ cấm kỵ trong bài viết. Người biết nhẫn nhục, tin nơi “thiên mệnh” thì buồn đau cho số phần không may và lo chuẩn bị cho khóa thi sau, nhưng không phải năm nào cũng có. Người bộc trực sanh bất mãn, rồi chọn con đường “làm giặc” chống lại triều đình. Phải chờ khi chế độ vua quan phong kiến cáo chung và lối thi cử không chuộng từ chương của Tây Phương được du nhập vào Việt Nam, cái nét văn hóa hàng ngàn năm đó mới được bãi bỏ.

Có văn hóa của một đoàn thể, một tổ chức. nhưng cũng có văn hóa của một quốc gia. Việc xưng “con” với linh mục là thói quen lễ giáo của người giáo dân Việt Nam. Nhưng người Việt Nam cũng có tập tục tôn kính người tuổi tác, nhất là những người cỡ tuổi cha mẹ, ông bà mình: kính lão đắc thọ! Nghe một cụ già xưng “con” với một linh mục vừa chịu chức, tuổi đáng con cháu mình, thú thật tôi thấy khó chịu. Có linh mục lúc đầu cũng cảm thấy ngại ngùng với cách xưng hô “hạ mình” của giáo dân, nhưng rồi với sự đổi thay của thời gian năm tháng và của cả chính mình, cho đó là điều cần thiết, không thể và không nên thay đổi để...khuyến khích ơn gọi làm linh mục!

Trong trang hỏi đáp để sống đạo, VietCatholic ngày 10/12/2002, để trả lời câu hỏi “có nên gọi linh mục là cha và xưng tôi không”, nhất là đối với các linh mục chỉ “đáng tuổi con cái, cháu chắt mình,” linh mục phụ trách viết: “... trong một hoàn cảnh nào đó và nếu cảm thấy ngượng vì một lý do riêng tư nào đó, thì ông cũng có thể dùng các ‘từ’ khác, miễn là diễn tả được sự thân thiện liên hệ giữa ông và linh mục. Nhưng cũng nên nhắc rằng, người ta có thể sẽ đánh giá trị một người theo cách ăn, cách nói, cách đối thoại của người ấy.” Theo mạch văn, câu trả lời phải được hiểu là “không nên”, vì... người ta, theo truyền thống văn hóa (!), sẽ đánh giá ông thấp nếu ông không chịu xưng “con” mà xưng “tôi” với cha hay linh mục. Đó là văn hóa của giáo hội Việt Nam trước nay, không ít người giữ chức thánh vẫn muốn bảo tồn cho khỏi mất gốc, và người ta gọi đó là “sống đạo theo cung cách Việt Nam.”

Mười hai năm trước, trên đường đi Chicago dự lễ phong chức linh mục một người quen, tôi và nhà tôi ghé thăm chủng viện Ngôi Lời ở Iowa. Lúc đó chủng sinh Việt Nam ở chủng viện này đã chiếm gần nửa sĩ số ở năm thứ nhất; bây giờ đông hơn, khoảng hai phần ba. Hôm ấy là ngày cuối tuần và cuối niên học, thi cử đã xong. Nhiều gia đình Việt Nam có con đang tu học hoặc ở các vùng phụ cận đến viếng trường. Tới giờ cơm chiều, chúng tôi ngồi ăn chung với một chủng sinh Việt Nam khoảng 19, 20 tuổi đang học năm thứ nhất. Thấy ai cũng gọi các chủng sinh Việt Nam là “thầy,” chúng tôi ngại người khác sẽ đánh giá mình qua cách nói, nên bắt chước gọi chủng sinh này là “thầy.” Trong lúc dùng cơm, thầy hỏi “anh chị đến đây chắc là để xem trường cho ‘cháu’ học sang năm?” Chúng tôi chưa kịp trả lời, thầy liền khuyên chúng tôi nên cho “cháu” tu học ở đây vì trường tốt, dòng tu quốc tế có tiếng... Chờ thầy nói xong, tôi mới nói là “cháu nó” đã tốt nghiệp đại học hai năm trước rồi. Dù vậy, thầy vẫn tiếp tục gọi con tôi là “cháu” trong suốt buổi chuyện trò, dù “cháu nó” lớn tuổi hơn thầy. Tối đó, chúng tôi nói đùa với nhau... “anh này chưa làm cha mà đã chơi cha rồi.”

Có nên đặt lại vấn đề gọi các chủng sinh đang tu học là “thầy” không? Danh gọi này có nguồn gốc Kinh Thánh? Đây là cách để “trọng kính” thanh niên chọn con đường tu hành và khuyến khích ơn gọi? Ngay lúc còn đang tu học, tiếng “thầy” có tạo cho chủng sinh một mặc cảm tự tôn, tưởng mình hơn thiên hạ? Điều này có lợi cho con đường tu thân, tu đức?
ẢNH HƯỜNG VĂN HÓA ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG CỦA TỔ CHỨC
Trong một đoàn thể, tổ chức, cách xưng hô ảnh hưởng rất nhiều đến sự thông đạt (communication) và do đó, đến sự liên đới, tinh thần cộng tác giữa mọi người, và sự hữu hiệu của tổ chức nói chung. Theo tâm lý, dù hèn mọn đến đâu, không ai ưa thích người có thái độ cha chú, kẻ cả, xem mình chỉ là tay sai, thừa hành. Một nền văn hóa nhào nặn được những con người chấp nhận điều đó thì không còn tính cách nhân bản vì đã biến con người không còn là... con người nữa. Các chế độ độc tài toàn trị trước nay, dù có thừa quyền lực trong tay, với trăm mưu ngàn kế bá đạo, cũng không đạt được mục tiêu mong muốn: đào tạo những con người chỉ biết nhắm mắt vâng phục, luôn luôn nhất trí. (Em Nguyễn Phi Thanh ở Việt Nam hiện nay là một bằng chứng điển hình. Nguyễn Phi Thanh, 17 tuổi, học sinh lớp 11, trong cuộc thi văn dành cho các học sinh giỏi ở Hà Nội tháng 3 năm 2005, đã thẳng thắn bày tỏ cảm tưởng tiêu cực của mình về tác phẩm “Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc” của Nguyễn Đình Chiểu mà em được dạy phải khen một cách hồ hỡi, phấn khởi. Em biết rõ và dám nhận hậu quả của hành động nói thật trong một chế độ như CHXHCNVN hiện nay: em tiên đoán sẽ không được điểm nào. Thực tế khá hơn một chút: em được 3/15 điểm với lý do “viết lạc đề!”).

Cách xưng hô theo truyền thống văn hóa Việt Nam, trong các tổ chức đời cũng như đạo, là một cản trở đáng kể cho sự hợp tác giữa người già và người trẻ. Cứ nhìn thành phần và sinh hoạt các hội đoàn ở các giáo xứ Việt Nam ở Hoa Kỳ, các người trẻ, nhất là giới trẻ có học, thường vắng bóng. Không thể có một sự thảo luận, góp ý thật sự đúng nghĩa, một sự hợp tác chân thành giữa một bên là “cha, bác, chú, cô… ” nghĩ mình có quyền, nhiều kinh nghiệm, thành tích (nhưng không còn hợp thời) và một bên là “con, cháu” có học nhưng chưa kinh nghiệm (dưới cái nhìn của các bậc cha chú).

Phần khác, cách xưng gọi CHA-CON đã tạo nên sự ngăn cách giữa hai thành phần dân Chúa, người có chức thánh và giáo dân, trong vấn đề thông đạt. Cách xưng gọi này ít nhiều đã tạo nên hai loại mặc cảm trái ngược. Người được gọi là CHA thường cảm thấy mình vượt trội hơn giáo dân về hiểu biết, không những về thần học, tín lý mà còn ở mọi lãnh vực khác, lại có quyền cầm buộc nên nảy sinh mặc cảm tự tôn , tự cho mình quyền ra lịnh và được tuân phục. Người xưng CON tự nhận mình ở vị thế thấp kém, vật mọn phàm hèn, ít hiểu biết, sẵn sàng vâng phục, thụ động chờ sai bảo thay vì có sáng kiến đóng góp, từ đó tạo cho mình mặc cảm tự ti. Thêm nữa, cái tư tưởng truyền thống (văn hóa!) “áo mặc không qua khỏi đầu” đã giúp cơ sở cho hai loại mặc cảm này phát triển, khiến cho nhiều người mang giữ chức thánh nghĩ mình không bao giờ sai lầm trong bất cứ vấn đề gì, đạo hay đời.
Cả CHA và CON, ít người muốn/dám nghĩ đến câu “con hơn cha là nhà có phúc,” hoặc nếu có thì cũng đổi khác đi, “con hơn cha là nhà vô phúc”. Chính cung cách xưng gọi này là nguyên do của cơ chế quyền hành xin-cho trong liên hệ giữa giáo sĩ và giáo dân, biến người từ vị trí phục vụ trở thành người được phục vụ, có quyền ban phát đặc ân (bí tích), biến trách nhiệm thành ơn huệ, làm cản trở cho sự hiệp nhất và yêu thương đích thật giữa hai thành phần dân Chúa. Đây là nét đặc thù của văn hóa Việt Nam. Các dân tộc khác tuy cũng gọi linh mục là ‘cha’ (Père, Father, Padre...) nhưng việc xưng gọi giữa linh mục và giáo dân không tạo nên tương quan mặc cảm về quyền hành như từ CHA-CON trong ngôn ngữ Việt Nam.

Do đó, ở các giáo xứ, cộng đoàn Việt Nam, chủ chiên vẫn canh cánh bên mình phong cách lãnh đạo, chăn dắt từ bên VN, thời còn bị đô hộ, thích chọn những người làm việc giáo xứ theo tiêu chuẩn “con chiên ngoan ngoãn,” bảo đâu làm đó, không bao giờ dám có ý trái với chủ chiên, nói khác, chọn “tay sai”, không chọn người cộng tác. Cha đã nói là phải đúng, bất cứ vấn đề gì! Một linh mục Việt Nam mới được bổ nhiệm về làm chánh xứ một họ đạo ở Hoa Kỳ. Vài giáo dân Việt Nam đến gặp linh mục đề nghị, góp ý về sinh hoạt của giáo xứ, cộng đoàn được linh mục dạy dỗ: “Các anh đi làm. Ở sở các anh làm theo ý của ông boss hay ông boss làm theo ý các anh?” Quả đúng là cung cách “áo mặc không qua khỏi đầu!” Câu nói này được các “con chiên ngoan ngoãn” làm việc với linh mục xem là khuôn vàng thước ngọc cho thuật lãnh đạo. Có người còn hãnh diện nói: “Tôi ngu dốt. Cha sai bảo gì tôi làm nấy.” Người lãnh đạo một tổ chức chỉ muốn qui tụ quanh mình những “yes–men” để làm tay sai, để mình được xem là “đỉnh cao nhất của trí tuệ” thì hậu quả ra sao ai cũng có thể đoán được.


NGUYÊN DO TỪ ĐÂU: GIÁO SĨ HAY GIÁO DÂN?

Khi nói đến văn hóa thì phải nói đến mọi thành phần mà văn hóa đó ảnh hưởng đến. Những điều không xứng hợp, lỗi thời xảy ra trong cộng đoàn, giáo xứ Việt Nam không phải chỉ do những người trên trước mà cũng do cấp dưới tạo ra, không phải chỉ do chủ chiên mà còn do các con chiên. Chính cung cách sống đạo của giáo dân Việt Nam đã tạo “môi trường thuận lợi” cho những hành động lạm quyền, bất xứng sanh sôi, nẩy nở. Chính giáo dân đã làm cho các linh mục quên đi thiên chức linh mục của mình là phục vụ, và chỉ còn nhớ tước vị “làm cha” để được phục vụ. Nhiều người có nhận xét khi còn là chủng sinh, các “thầy” rất dễ thương, gặp người lớn tuổi hơn đều gọi “bác,” “chú” hay “cô” và xưng “con,” xưng “cháu,” xưng “em” rất ngọt. Nhưng sau một thời gian (ngắn) làm cha rồi, thì thái độ và cung cách thay đổi cho thích hợp với văn hóa Việt Nam ta!

Các linh mục trẻ được huấn luyện ở Hoa Kỳ liệu có đi lại con đường của nhiều linh mục đàn anh tu học ở Việt Nam trước đây không?

Tôi biết vài trường hợp linh mục Việt Nam được huấn luyện ở Hoa Kỳ, chịu chức lúc tuổi chưa 40, khi được bài sai đi coi xứ đạo Mỹ có đông giáo dân Việt Nam, hành sử không khác gì nhiều linh mục lớn tuổi tu học ở Việt Nam trước đây. Đường lối lãnh đạo của linh mục đối với cộng đồng giáo dân Mỹ rất khác với cách linh mục “chăm sóc” cộng đoàn giáo dân Việt, như nhận xét của Người Tín Hữu trong bài “Người Giáo Dân Trong Cộng Đồng Việt Nam Công Giáo Hải Ngoại,” (Hiệp Nhất, số 85, tháng 1 năm 2000): “Một lớp giáo sĩ khi làm việc cho người Âu, người Mỹ thì sống như người ta, theo nhịp canh tân của Cộng Đồng, mà khi trở lại làm việc với người giáo dân đồng hương của mình thì xem mình là ông quan phong kiến, rồi tổ chức cộng đoàn y như thời phong kiến.”

Cái truyền thống văn hóa của người Việt Nam ta, nếu có “cơ hội” thuận lợi là xuất hiện, giáo dân cũng như giáo sĩ, người già cũng như người trẻ. Hơn nữa, điều này cũng tùy thuộc nơi cung cách sống đạo của giáo dân. Nếu giáo dân vẫn cứ tiếp tục sống đạo theo cung cách truyền thống Việt Nam – đi lễ, xin lễ, đọc kinh, đóng tiền, chuộng hình thức, chỉ trong khuôn viên nhà thờ, cha bảo sao cũng nghe, nói gì cũng đúng, giảng/hiểu lời Chúa cách nào cũng được, nói khác, sống đạo theo công thức “đóng tiền, cầu nguyện, và vâng lời”.., và tin rằng nhờ đó sẽ được vào Nước Trời -- thì các linh mục chánh xứ/quản nhiệm cũng khó mà thay đổi (tội gì thay đổi!).

Đâu là nguyên do của tình trạng này? Văn hóa? Giáo dân hay những người có trách nhiệm còn muốn duy trì đường lối lãnh đạo không hợp thời đó?

Giáo dân Việt Nam luôn luôn “bị chê” là không rành thần học, tín lý, giáo luật... Nhận xét này rất đúng trong hầu hết các trường hợp. Nhưng câu hỏi được đặt ra là những người có trách nhiệm lãnh đạo giáo hội Việt Nam, các linh mục chánh xứ, các “bậc thầy thật sự” về những lãnh vực này, tức những người có nhiệm vụ tông huấn, đã làm gì để nâng cao sự hiểu biết của giáo dân, đặc biệt là trong hơn 40 năm qua sau Công Đồng Vaticano II? Câu trả lời thật dễ dàng: một con số không to tướng! Những người có trách nhiệm chỉ nhắm việc phát huy lòng mộ đạo, sùng đạo (một cách rất hình thức) nơi giáo dân mà không quan tâm đến việc học đạo (huấn luyện) và hành đạo.

Giáo lý căn bản của đạo Chúa “mến Chúa yêu người,” thực tế đã trở thành “kinh sợ và thờ phượng Chúa” qua hành động xây cất, sửa sang nhà thờ. Sau mỗi buổi lễ ở nhà thờ, bao nhiêu lời rao giảng của linh mục có thể ứng dụng được vào cuộc sống thực tế hàng ngày? Lý thuyết và lý thuyết! Chính người giảng đạo cũng chưa chắc đã thật sự sống những điều mình rao giảng! Một linh mục chánh xứ sống đạo, “truyền giáo” bằng công tác xây cất, sửa sang đền thờ thật lộng lẫy, tiện nghi “để Chúa có nơi thờ phượng xứng đáng”... có bao giờ hiểu rõ và giảng đúng ý nghĩa lời Chúa, “con chồn có hang, chim trời có tổ, nhưng Con Người không có chỗ gối đầu?” (Lc 9:58). Một câu nói vẫn thường được các giám mục nhắc đi nhắc lại để nhắn nhủ các tân linh mục trong buổi lễ truyền chức: tin những gì mình đọc (Kinh Thánh), rao giảng những gì mình tin, và thực hành những gì mình rao giảng. Đó là ba điều căn bản không thể thiếu vắng trong cuộc đời tu trì của một linh mục, nhất là tin và thực hành.

Ngày nay, 40 năm sau Công Đồng Vaticano II, những giáo dân Việt Nam “không rành, hiểu sai tín lý, thần học, giáo luật” đó được giao cho trách nhiệm loan báo Tin Mừng, phụ trách giảng dạy các lớp tân tòng, thêm sức... Điều mâu thuẫn và hết sức nguy hiểm là ở chỗ đó. Nhiều giáo sĩ chủ trương người giữ chức thánh chỉ có nhiệm vụ tông huấn, rao giảng trong nhà thờ, còn giáo dân có nhiệm vụ thể hiện Tin Mừng bằng hành động men muối của mình nhờ sống len loi trong thế giới trần ai! Người rao giảng lời Chúa thì không thực hành, và người thực hành thì không thông hiểu! Một sư phân công rất… thánh thiện! Không hiểu rõ đạo, không thông suốt lời dạy của Đức Kitô, làm sao thể hiện bằng hành động đúng được? Những việc làm dị đoan, những hành động buôn thần bán thánh có phải là đạo Chúa không? Nếu giáo dân sống đức tin qua những “hành động men muối” này thì tội nghiệp cho đạo Chúa quá! Chính đây mới thật sự là những trường hợp “lạc đạo,” “lạc giáo” đáng được “lộng kiếng!”

Trước nay, người giáo dân Việt Nam chỉ học đạo để chuẩn bị nhận các phép bí tích như rửa tội, thêm sức, hôn phối, và sau đó hoàn toàn cậy trông nơi bài giảng của linh mục trong các lễ Chúa Nhật. Bởi đó, cho đến bây giờ, đối với nhiều giáo dân, một lời nói, một bài viết, ngay cả những vấn đề không thuộc về đạo chỉ có giá trị khi người nói, người viết là người có chức thánh. “Linh mục là người tinh thông mọi sự vì các ngài học trường lý đoán, La-tinh, và có mang trong người bảy chức thánh,” nhiều giáo dân đã được dạy và vẫn còn tin như vậy. Sự kiện này đưa đến tình trạng “độc quyền chân lý.” Nếu chúng ta cứ bằng lòng với các “bài giảng” như trước nay, không dám nói thật, nêu lên những sai quấy vì sợ làm nản lòng người đang tu hoặc có ý định đi tu, thì chẳng những chúng ta không giúp gì mà còn khiến cho hoạt động giáo hội bị trì trệ, Tin Mừng không thể đi khắp muôn phương như lời Đức Kitô truyền dạy các tông đồ.

Cho nên người giáo dân theo đạo Chúa cần học đạo để hiểu biết rõ đạo, phân biệt đức tin và dị đoan, biết rõ vai trò và trách nhiệm của mình trong giáo hội, giáo xứ, cộng đoàn, cũng như biết rõ vai trò, trách nhiệm, và quyền hạn của người lãnh đạo, đặc biệt là linh mục chánh xứ, để tránh tình trạng xin-cho, ban phát hay tùng phục mù quáng như đàn trừu Panurge. Ngoài quyền hành được giáo luật quy định, nhiều linh mục chánh xứ/quản nhiệm cộng đoàn còn cho mình nhiều thứ quyền tự biên, tự diễn vì nghĩ rằng giáo dân không thông hiểu gì cả. Loại quyền hành nầy chỉ thật sự có khi chúng ta chấp nhận nó, để nó ảnh hưởng, chi phối và qui hướng cuộc đời chúng ta.

Chúng ta đang sống ở thời đại tin học, cơ hội và phương tiện học hỏi rất phong phú. Việc học đạo không thể chỉ giới hạn trong khuôn viên nhà thờ qua các bài giảng của linh mục chính xứ, phó xứ, mà cần được bổ túc qua báo chí, sách vỡ, tài liệu nghiên cứu, bài viết trên mạng... Nếu giáo dân cố gắng học hỏi để hiểu rõ, hiểu đúng đạo Chúa, và thể hiện đức tin trưởng thành, giới giáo sĩ, dù muốn dù không, cũng phải thay đổi thái độ và đường lối hướng dẫn, lãnh đạo. Sư gia tăng hiểu biết của giáo dân về đạo cũng như đời còn giúp nâng cao tầm hiểu biết của các giáo sĩ trong lãnh vực chuyên môn riêng như tông huấn và quản lý. Trong phạm vi trách nhiệm của mình, đó là điều giáo dân có thể làm được để cải tiến tương quan giữa giáo sĩ và giáo dân. Lãnh đạo bằng cách “bịt mắt dắt đi” không thể nào xảy ra nếu giáo dân hiểu đạo đúng và biết rõ vị trí đích thực của mình trong giáo hội.

HY VỌNG TƯƠNG LAI?

Văn hóa không phải là cái gì từ trời xuống, cố định, bất biến, không thể thay đổi được. Văn hóa là con người, do con người đặt để, tạo ra và phải thay đổi theo trình độ hiểu biết của những thành phần liên hệ và xã hội nói chung.

Có thể thay đổi văn hóa của một tổ chức không? Và điều kiện nào phải có để thành công?

Muốn thay đổi, điều kiện trước tiên là phải thấy cái hiện trạng đang xảy ra không phải là điều tốt, đã lỗi thời, không còn thích hợp với đà tiến của xã hội nên cần phải chấn chỉnh, phải canh tân, phải sửa đổi.

Điều này không phải dễ, nhất là đối với những thành phần trong guồng máy đang thụ hưởng nhiều bổng lộc, đặc quyền, đặc lợi. Chẳng những thấy không cần phải thay đổi tổ chức từ nhân sự đến phương cách lãnh đạo, điều hành, những người này còn tìm đủ mọi cách, viện dẫn mọi lý do để chống lại những đề nghị cải tổ như văn hóa, truyền thống, nếp sống cổ truyền, di sản tổ tiên, trình độ hiểu biết của quần chúng, nhân dân, thành viên, và nếu là tổ chức tôn giáo thì thêm yếu tố thần quyền nữa. Điều này đã và đang xảy ra ở các chế độ độc tài toàn trị, phong kiến vua quan. Người ngoài guồng máy, nhất là các nạn nhân, những thành phần bị ảnh hưởng tiêu cực có thể nhìn thấy dễ dàng mà người bên trong bị bã lợi danh che mắt không nhận ra.

Cho nên, muốn thay đổi hiện trạng của guồng máy, tổ chức cần có người từ bên trong nhìn thấy, và can đảm dám hy sinh quyền lợi cá nhân, phe nhóm.


Trong bất cứ tổ chức nào, sự thay đổi muốn đạt kết quả tốt đẹp phải bắt đầu từ người trên trước, tức thành phần lãnh đạo thượng tầng. Nếu không, sự thay đổi chỉ là một hình thức trang sức làm đẹp tạm thời, và sau một thời gian ngắn, đâu cũng vào đó.

Thiếu một trong hai điều kiện trên thì sự thay đổi không thể đem lại kết quả mong muốn.

Trong tổ chức giáo hội, sự thay đổi phải do các đấng bậc lãnh đạo ý thức nhận ra, khởi xướng và hành động. Giáo dân gợi ý, yêu cầu, đề nghị khó tránh khỏi bị kết án là chống cha, chống Giáo Hội Chúa, giáo gian, những cành cây khô phải chặt bỏ và quăng vào lửa đốt cháy đi. Sự kiện này đã/đang xảy ra ở nhiều cộng đoàn, giáo xứ Việt Nam, và đã xảy ra với các diễn đàn, tiếng nói giáo dân Việt Nam hiện nay ở Hoa Kỳ. Có lẽ cần phải nghĩ lại vấn đề “sống đạo theo cung cách Việt Nam” để xét coi cái nào nên giữ, cái nào phải bỏ đi vì không phải mọi cách đều hay, đều tốt cả. Xã hội thay đổi, con người thay đổi, sự hiểu biết của giáo dân thay đổi; cái hay, cái tốt thời xưa chưa hẳn thích hợp cho ngày nay.

Như đã nói trên, đối với một tổ chức như giáo hội công giáo, đặc biệt là giáo hội địa phương Việt Nam, thay đổi là điều thật khó vì, dù muốn dù không cũng phải nhận rằng, cơ chế tổ chức quyền hành và lãnh đạo hiện nay mang lại ít nhiều đặc quyền, đặc lợi cho những người lãnh đạo ở mọi cấp. Cho nên, nhiều người không thích, không muốn thay đổi cũng vì lý do “sợ mất” những quyền lợi đó. Nhưng như Đức Kitô đã bảo với các môn đệ gần 2000 năm trước, “muốn theo Thầy, các con phải từ bỏ tất cả. ”Những môn đệ chọn con đường theo Đức Kitô đã được dạy cho biết trước điều này và suy nghĩ nhiều năm trước khi quyết định theo Người. Do đó, không thể có sự lầm tưởng hay bất ngờ. Nếu đã thực sự từ bỏ tất cả, thì không còn gì để sợ mất. Còn sợ mất là chưa từ bỏ hết, chỉ từ bỏ những cái không quan trọng, có cũng được, mà không có cũng chẳng sao, nghĩa là chưa thật sự theo Đức Kitô hết cả tâm hồn, hết cả trí khôn, chỉ muốn mượn danh Người để mưu lợi ở trần thế, mượn đạo tạo đời.

Rất nhiều người trong thành phần giáo sĩ không muốn thay đổi, dùng những tiện nghi vật chất đang thụ hưởng để mời gọi người đi tu “làm cha.” Đây là một thực tế, và có thể chính vì sự hấp dẫn này mà ơn gọi ở các quốc gia nghèo tràn đầy, dư thừa. Có giáo sĩ cũng thấy cần thay đổi cho tốt hơn, nhưng ngần ngại so đo tính toán vì cái tâm lý “sợ mất”, nên khôn ngoan mơ ước sự thay đổi sẽ đến từ các thế hệ giáo sĩ sau mình, vài chục năm nữa, để mình không bị ảnh hưởng, thiệt thòi.

Một trở ngại khác rất quan trọng cho sự thay đổi trong giáo hội công giáo Việt Nam là thành phần giáo dân trước nay được dạy dỗ “sống đạo theo cung cách Việt Nam” để được vào Nước Trời. Thành phần giáo dân này là đồng minh lớn cho những giáo sĩ không muốn có sự thay đổi trong giáo hội, sẵn sàng tiếp tay cho những chiến dịch rỉ tai, chụp mũ 4C, CGH... những giáo dân nào “dám” kêu gọi, đề nghị cải tổ những điều không còn thích hợp.

Vì vậy, vai trò của các diễn đàn, tiếng nói giáo dân như tạp chí, mạng lưới, chương trình phát thanh trở nên rất cần thiết và quan trọng để giáo dân học hỏi, chia sẻ, trao đổi ý kiến nhằm giúp nhau nâng cao sự hiểu biết về đạo cũng như về đời.

Điều rất khích lệ là trong những năm qua, nhiều giáo dân trong nước cũng như ở hải ngoại đã có những bài viết thật sâu sắc, thể hiện những ưu tư về hiện tình, đướng hướng lãnh đạo giáo hội quê nhà, phương cách rao giảng và sống Tin Mừng của một số giáo sĩ trong nước và hải ngoại, cũng như những vấn đề của giáo hội hoàn vũ nói chung. Những tập san Dấn Thân, Diễn Đàn Giáo Dân, mạng lưới Tiếng Nói Giáo Dân, chương trình phát thanh Lương Tâm Công Giáo... đã góp phần không nhỏ dù bị đánh phá, chụp mũ...

“Cảm tạ Chúa, càng ngày càng nhiều anh em giáo dân ý thức được vai trò và sứ mệnh của mình trong Giáo hội và xã hội, và can đảm đứng lên đóng góp cho Giáo hội. Giáo hội không là đặc quyền đặc lợi của giới giáo sĩ, nhưng Giáo hội là căn nhà chung để mọi người cùng đến gặp gỡ và cùng chia nhau ra đi vào phục vụ trần thế. Chúng ta có con đường phục vụ của chúng ta, tuy âm thầm, nhỏ bé và bị át giọng, nhưng không thể thiếu trong giai đoạn hiện nay trong Giáo hội. Điều quan trọng là chúng ta phải kết hiệp với Chúa để Ngài hướng dẫn, phù trợ chúng ta trong công việc phục vụ này.” (trích “Tâm Tình Với Bạn,” Hoàng Quý).

Về phía giáo sĩ Việt Nam, tôi thấy có vài dấu hiệu đáng mừng nơi một ít linh mục trẻ tu học ở nước ngoài, nhất là các linh mục tu dòng ngoại quốc. Các linh mục này đã tạo dựng được sự quý mến của giáo dân bằng đời sống phục vụ. Một linh mục Việt Nam thuộc dòng DC Hoa Kỳ được Phạm Quốc Thanh nói đến trong bài “Ông Cha Xứ Của Tôi,” TiengNoiGiaoDan.Net. Những lời tâm sự chân thành của cha Tuyên cũng là dấu chỉ thật khích lệ về sự thay đổi từ giới giáo sĩ trong cách thái suy nghĩ và phương thế hướng dẫn giáo dân trong đời sống đạo. Cầu xin Chúa cho thành phần các giáo sĩ sống đời phục vụ này mỗi ngày mỗi nhiều thêm.



***


Ở bất cứ đâu, người tín hữu giáo dân ngày nay cũng có học, và hiểu biết về đạo, đời nhiều hơn các thế hệ trước. Điều tự nhiên không thể tránh khỏi là giáo dân ngày nay có nhiều suy tư về đường lối lãnh đạo của giáo hội, có những vấn nạn về đức tin, giáo lý... Quan điểm, giải thích của giáo hội, do đó, phải chánh đáng, hợp lý, và vững chắc để thuyết phục. Giáo hội cần tạo điều kiện thuận lợi và yểm trợ cho các diễn đàn thảo luận, học hỏi. Thật là ngây thơ và lầm lạc nếu tin rằng cứ tránh né, không bàn cãi, thảo luận thì vấn đề tự nó sẽ biến đi với thời gian. Có thể trong tạm thời nó ẩn mình đâu đó, nhưng chắc chắn nó sẽ tái xuất hiện với sức đối kháng mãnh liệt hơn trước. Con đường đưa tới sự thật chính là sự lắng nghe, đối thoại cởi mở để tìm hiểu, trao đổi ý kiến. Không lắng nghe những ý kiến trái với mình không chứng tỏ được mình hoàn toàn đúng mà thường là thể hiện tâm trạng bất an, sợ sệt, chưa kể đi ngược lại trào lưu dân chủ hiện nay của xã hội con người.

Thật là nghịch lý khi, một mặt thì tranh đấu, hô hào phương thức sinh hoạt dân chủ cho các định chế, tổ chức xã hội, và mặt khác thì lãnh đạo, điều hành liên đoàn, cộng đoàn, giáo xứ như các ông quan phong kiến thời xưa, viện lý do “Giáo Hội theo thể chế quân chủ!”

Thật là mâu thuẫn nếu trong cuộc sống hằng ngày, linh mục, một Đức Ki-Tô khác, “đòi được kính trọng đặc biệt, đòi được gọi bằng ‘cha’ mới thỏa lòng” vì... tôi là người giữ chức thánh, tôi không phải là người đời/thường, nhưng khi “có vấn đề,” sa ngã, phạm tội, phạm lỗi, thì viện cớ mình cũng là con người với xác phàm, có những yếu hèn như mọi người khác ở thế gian!

Tôi mong với sự trưởng thành của giáo dân Việt Nam ở trong nước và hải ngoại, giáo hội Việt Nam sẽ thay đổi đường lối lãnh đạo, nhất là ở cộng đoàn, giáo xứ về nhân sự cũng như tài chánh cho xứng hợp với những canh tân, cải tổ của Cộng Đồng Vaticano II, và sự tiến bộ của xã hội con người nói chung.

Tôi ước gì các thành phần dân Chúa Việt Nam – giáo dân, tu sĩ, giáo sĩ và hàng giáo phẩm -- có sự cởi mở, khoan dung và tương kính để Tin Mừng và Ơn Cứu Chuộc của Chúa Yê-su được loan đi, không phải chỉ trong khuôn viên nhà thờ giữa các tín hữu theo đạo Chúa, trong các thánh lễ Mi-sa, nhưng ở khắp muôn nơi bằng cách đem Chúa đến với mọi người.

Hơn bốn mươi năm sau Công Đồng Vaticano II, người giáo dân Việt Nam chỉ dám mong ước mấy điều sơ đẳng và căn bản trên là do đâu? Truyền thống văn hóa, giáo dân hay những người có trách nhiệm chăn dẫn đàn chiên? Cần phải thay đổi? Bắt đầu từ đâu? Giáo sĩ hay giáo dân? Hay cả hai?