Egypt Israel Oct 2007

2011 Our Lady of Guadualupe




Bấm nút "Download Now"
để cài Windows Media Player. 
Windows Media Player 11
Download Now

Windows Media Download Center
 


Wednesday, June 15, 2005

I. DANH XƯNG TRONG GIÁO HỘI

Trần Mỹ Duyệt

Trong những thông điệp và văn thư của Giáo Hội gần đây, nếu để ý chúng ta thấy rằng văn phong và lối xưng hô đã được đổi mới. Ngay cả Giáo Hoàng không gọi các tín hữu, các linh mục, tu sĩ nam nữ, hoặc giám mục bằng "con" và xưng "cha" hoặc "ta" như cung cách và văn bản của các thập niên trước. Đặc biệt là Đức Gioan Phaolô II và gần đây Đức Bênêđíctô XVI đã gọi bằng từ "bạn hữu", hay "các bạn", và xưng "tôi". Nếu dịch một cách khiêm tốn và hợp với cung cách của các văn bản Giáo Hội, chúng ta vẫn có thể hiểu và dịch là "các con" và "cha". Và trong trường hợp này, lối xưng hô ấy được coi là thân tình, đơn sơ, và khiêm tốn.

Có lẽ những vị Giáo Hoàng gần đây như Á Thánh Giáo Hoàng Gioan XXIII, Đức Phaolô VI, Đức Gioan Phaolô II, và nhất là Đức Bênêđíctô XVI là những vị đã thấm nhuần với sự cải tiến và ảnh hưởng của Công Đồng Vaticanô II, một Công Đồng đã thổi một luồng gió mới vào Giáo Hội qua tác động của Chúa Thánh Thần, làm cho tươi mát và trẻ trung Giáo Hội. Trẻ trung và tươi mát trong cung cách và những đối xử thường ngày với nhau giữa các phần tử trong Giáo Hội cũng như ngoài Giáo Hội. Những đổi mới ấy, khiến cho bộ mặt Giáo Hội trở nên dễ mến hơn. Và việc giới thiệu Giáo Hội với thế giới bên ngoài được dễ dàng đón nhận hơn.

Công Đồng Vaticanô II, dựa vào tư tưởng và sự góp ý của cố Hồng Y Eves Congar, lúc bấy giờ chỉ là một thần học gia thuộc Dòng Đaminh, đã thổi một luồng gió mới vào sinh hoạt của Giáo Hội, nhờ đó không những vấn đề đại kết được Công Đồng đặc biệt chú ý tới, mà còn cả đến ơn gọi và vai trò người Kitô hữu giáo dân cũng được cứu xét và đề cao trong sinh hoạt của Giáo Hội. Tác phẩm "Người Giáo Dân Trong Giáo Hội" trước đó đã bị liệt kê vào những tác phẩm bị nghiêm cấm, nhưng sau đó thì đã được phổ biến sâu rộng và làm nền tảng cho những suy tư thần học về vị trí và vai trò của người giáo dân sau này.

Theo Cố Hồng Y, người tín hữu vì là thành phần của dân Chúa, nên cũng như các tu sĩ nam nữ, hoặc những linh mục, giám mục, hồng y hay giáo hoàng cũng phải có trách nhiệm trực tiếp đối với những việc thuộc Nước Trời. Ngài còn đi xa hơn khi cho rằng tùy theo ơn gọi khác nhau, nhưng không có sứ vụ riêng biệt nào phân chia người tín hữu với thiên chức linh mục. Qua Bí Tích Rửa Tội và Thêm Sức, họ phải có trách nhiệm với đời sống tông đồ của mình. Xa hơn nữa, Ngài còn khẳng định rằng "chức tư tế của giáo dân là một chức tư tế đích thực trong cả sự thánh thiện của ơn gọi và ngay trong các phụng vụ bí tích".

Thế giá của những tư tưởng thần học trên không chỉ dựa vào chức Hồng Y của Ngài, mà là định đặt trên một hành trình thai nghén, chấp nhận mọi bất trắc kể cả việc Giáo Hội chế tài Ngài trong suốt 91 năm có mặt trên trần thế. Ngài đã tranh đấu, đã chấp nhận và đã bằng lòng trước mọi phản đối để bênh vực cho ơn gọi và thế đứng của người Kitô hữu giáo dân trong Giáo Hội. Phần thưởng sau cùng dành cho Ngài ngoài việc Ngài được phục hồi danh dự sau những năm dài bị nghi ngờ, chế tài, và bức xúc về tâm lý, là được mời làm cố vấn thần học cho các Nghị Phụ của Công Đồng Vaticanô II, và 6 tháng trước khi qua đời, Đức Gioan Phaolô II đã vinh thăng Ngài lên chức Hồng Y.

Những tư tưởng quý giá ấy, và những suy tư thần học ấy, tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa được hưởng ứng và chưa được cập nhật hóa vào sinh họat của Giáo Hội Việt Nam, mà điển hình là qua cung cách xưng hô giữa những người mang danh Kitô Giáo nhưng khác nhau về ơn gọi.

Cho đến nay, người Kitô hữu hay tín hữu vẫn được gọi là "giáo dân" hay "con chiên". Những người tu hành thường được gọi là thầy, là sơ, là cha, đức ông, đức cha, đức hồng y, hay đức giáo hoàng. Và qua lối xưng hô ấy ngầm hiểu sự kính trọng và vai trò của từng người. Tuy nhiên, ở vào thời đại hiện nay, khi mà tư tưởng về nhân phẩm, nhân vị, và ơn gọi đang tạo nên một số vấn đề mà thiết tưởng người Kitô hữu giáo dân, cũng như những vị đang sống trong ơn gọi tu hành cần phải nghiêm chỉnh để tìm hiểu. Vì sự tìm hiểu này sẽ làm cho sinh hoạt tôn giáo, tâm linh, và đời sống tâm lý của Giáo Hội phù hợp với ý nghĩa của Công Đồng, đồng thời đem tinh thần Kitô Giáo vào những sinh hoạt của tôn giáo, cũng như xã hội.

Người Kitô hữu giáo dân có nên tiếp tục gọi các linh mục là "cha" và xưng "con" nữa hay không? Và những linh mục, giám mục, hồng y và giáo hoàng có nên tiếp tục gọi những anh chị em mình bằng "con" hay "con chiên" nữa hay không? Điều này cũng cho phép ta nghĩ lại cách xưng hô của những cha mẹ những linh mục, giám mục với con mình bằng cách gọi là "cha" và xưng "con". Sau đây, xin đề nghị một vài sửa đổi trong cách xưng hô vốn đã có từ trước:


Danh xưng hiện thời Danh xưng đề nghị

Giáo dân ---> Tín hữu hay Kitô hữu
Con chiên ---> Xin loại bỏ
Sơ/bà sơ, bà dòng ---> Nữ tu
Thầy dòng ---> Tu sĩ
Thầy triết học ---> Chủng sinh ban triết học
Thầy thần học ---> Chủng sinh ban thần học
Thầy Sáu ---> Phó Tế
Cha, cụ, thầy cả ---> Linh mục
Đức Ông ---> Chưởng mục
Đức Cha/Đức Giám Mục ---> Giám Mục/Đức Giám Mục
Đức Hồng Y ---> Hồng Y/Đức Hồng Y
Đức Giáo Hoàng ---> Giáo Hoàng/Đức Giáo Hoàng
Đức Thánh Cha ---> Giáo Chủ/Đức Thánh Cha
Đức Bà Maria ---> Đức Mẹ Maria hay Đức Maria


Sự khác biệt trong khi loại bỏ chữ "Đức" trước danh xưng "Ông", giám mục, hồng y hay giáo hoàng vì chữ "đức" đã được dùng để biệt kính Mẹ Maria, (Đức Maria/Đức Mẹ Maria) và nhất là để kính Chúa Giêsu, Cứu Thế và là Thiên Chúa thật (Đức Chúa Giêsu Kitô, Đức Giêsu Kitô). Tuy nhiên, trong một cách xưng hô có tính cách lễ nghi, hoặc trịnh trọng, chữ "Đức" cũng chỉ nên áp dụng cho các chức bậc cao trọng như Giám Mục, Hồng Y, và Giáo Hoàng, và chỉ trong những trường hợp đặc biệt.

Vì nếu đã dành trọn sự kính trọng và yêu mến để xưng tựng Chúa Giêsu và Mẹ Maria là "Đức", thì sự khiêm tốn của một chức sắc trong giáo phẩm hay Giáo Hội cũng đã tự cảm thấy cần được giới hạn qua danh xưng mà người khác dành tặng cho chính mình.

Vả lại, khi gọi một người là linh mục, giám mục, hồng y, hay giáo hoàng, thì tự nó đã nói lên lòng kính trọng và yêu quí dành cho người đang mang chức vụ ấy. Vì trong thực tế, nhiều "cha", nhiều "đức ông", và ngay cả "đức cha" cũng chả "đức tý nào" nhưng vẫn nghĩ rằng mình đáng được như vậy vì cái "Đức" của mình, thì vô tình lối xưng hô như vậy làm thiệt hại cho cả người được xưng hô lẫn người xưng hô. Nhất là nó sẽ trở thành một đề tài cho những đàm tiếu và nghi ngờ của những anh chị em không phải là Công Giáo, hoặc đã có một số ác cảm hay ngờ vực đối với Công Giáo.

Tâm lý tiềm ẩn sau những từ ngữ xưng hô như vậy là điều mà Giáo Hội Công Giáo Việt Nam cũng cần lưu ý. Trong thực tế, có rất nhiều linh mục trẻ, trước khi lãnh chức linh mục đã khiêm tốn và sống hòa đồng, tạo được thiện cảm tốt đối với anh chị em tín hữu, nhưng vừa sau khi trở thành một linh mục và qua lối xưng hô "cha - con", đã làm biến thái đời sống và cung cách cư xử của vị linh mục ấy. Vì lúc đó, không còn là một người anh em với các anh chị em tín hữu nữa, mà là "cha". Được cảm thấy hãnh diện vì người khác gọi mình là cha, và rất như có thái độ tự phụ khi gọi người khác bằng "con". Tâm lý này thật ra đã là một tệ trạng ảnh hưởng bởi truyền thống văn hóa và xã hội Việt Nam trước đây, và đã lâu đời đi vào xương tủy của nhiều người. Sự kính trọng học thức, nhất là ảnh hưởng giữa nhu cầu cung và cầu cũng như cách thức vượt qua được sự tuyển chọn làm cho vị linh mục trẻ tưởng mình thật sự cao cả và không thể thiếu hoặc không ai thay thế.

Và cũng qua tâm lý tiềm ẩn ấy, vị linh mục từ từ làm mất đi ý nghĩa phục vụ, ý nghĩa của thiên chức, đến độ coi việc dâng thánh lễ, cử hành các bí tích như một bổn phận nặng nề, nhàm chán. Hầu hết các linh mục Việt Nam cho đến nay vẫn coi việc dâng thánh lễ là một việc làm - có thể là một việc làm cao cả - "tôi phải đi làm lễ".

Điều này cũng không loại bỏ thái độ nịnh bợ, và xua nịnh của tầng lớp giáo dân thiếu trưởng thành, và ngay cả những giáo dân muốn có chút quyền, chút lợi trong sinh hoạt giáo xứ và giáo hội. Đối với những tín hữu này thì việc thổi phồng và đánh bóng một người để được hưởng ké cái vinh quang hoặc bổng lộc cũng là một việc làm thường thấy. Từ tư tưởng ấy, linh mục hay cha càng được bao che, như việc thần tượng hóa lãnh tụ trong các chế độ độc tài với dụng ý hưởng lợi. Như vậy, bề ngoài những tín hữu này tỏ ra rất ngoan hiền, kính trọng "cha", "cụ" nhưng tự thâm thâm và sau lưng "cha" hay "cụ" đối với họ chỉ là một cái bình phong cần thiết.

Không những trong lãnh vực tu đức đã không cho ta một ý nghĩa mạnh trong lối xưng hô "cha-con" như thói quen hiện nay. Việc xưng hô ấy cũng không phản ảnh được ý nghĩa mà Thánh Kinh đã nhắc nhở. Thật vậy, không tìm đâu ra được chỗ nào trong Tân Ước, trong đó, Chúa Giêsu dậy chúng ta phải xưng hô với linh mục là "cha", và các giám mục, hồng y, giáo hoàng là "đức" - đức giám mục, đức hồng y hay đức giáo hoàng. Vì ngay thời Ngài, Chúa Giêsu chưa thiết lập vai trò linh mục và hồng y. Hai chức này chỉ đến với sinh hoạt của Giáo Hội sau này, khi nhu cầu và hệ thống tổ chức của Giáo Hội đòi hỏi ở những thế kỷ sau này trong tiến trình phát triển của Giáo Hội. Phần Chúa Giêsu, Ngài đã chỉ huấn luyện và gọi các môn đệ thân tín là Nhóm 12 của Ngài là Tông Đồ, và trong đó Phêrô được gọi là Tông Đồ Trưởng, và trước khi về trời, Chúa đã trao phó cho Phêrô nhiệm vụ mà sau này ta gọi là nhiệm vụ Giáo Hoàng, Giáo Chủ, Giáo Tông, hay Cha Chung của Giáo Hội.

Chúng ta cũng không tìm đâu thấy các tín hữu sơ khởi đã gọi các Tông Đồ và sau này các phụ tá của các Tông Đồ, tức những người đã được coi là có tư cách và đạo đức, và bằng việc đặt tay mà Giáo Hội gọi là truyền chức cho những phụ tá các Tông Đồ thời đó là các phó tế, và tiếp theo sau này là linh mục. Trong tiến trình thành hình chức linh mục ấy và sau đó, lịch sử Giáo Hội sơ khai đã không thấy một hình ảnh "cha" nào trong cách xưng hô.

Ngược lại, Chúa Giêsu đã nói rất rõ về lối xưng hô với mọi người, như Ngài đã nói: "Đừng gọi ai là cha dưới đất, vì chúng con chỉ có một Cha trên trời" (Mt 23:9). Nếu câu nói ấy không thể loại bỏ giới răn thứ 4 là "thảo kính cha mẹ", vì trong giới răn ấy, vai trò và các xưng hô "cha-con" giữa một người cha và mẹ và con cái được hiểu một cách hoàn toàn rõ ràng và đầy đủ.

Như vậy, nếu Chúa Giêsu bảo đừng gọi ai là cha thì hiểu rằng Ngài muốn ám chỉ những thành phần kinh sư, Pharisiêu, và luật sĩ thời ấy. Những người mà chính Ngài cũng đã nói: "Chúng ngồi trên tòa Maisen, nên hãy nghe mà đừng bắt chước việc chúng". Những người ngồi trên tòa Maisen đây, trong bối cảnh của thời đại ta là các linh mục, giám mục, hồng y và giáo hoàng. Chúa Giêsu thì muốn và nói như vậy, nhưng phần con người thì lại muốn và hành động khác, như vậy không thể có sự tôn kính và vâng phục ít nhất là trong cung cách thi hành lời Ngài. Và chúng ta chỉ có thể tìm thấy trong những lối xưng hô ấy bằng cách giải thích theo từng ảnh hưởng của mỗi nền văn hóa.

Ngay những ngày đầu của bước đường tỵ nạn vào năm 1975, người viết rất lấy làm ngạc nhiên khi nghe một giám mục mà sau này là hồng y đã gọi một linh mục lớn tuổi bằng tên gọi của ông "John" và vị linh mục ấy cũng gọi lại vị giám mục bằng tên gọi "Bernard". Gần đây nhất, trong một lần gặp gỡ Giám Mục Mai Thanh Lương, người viết vẫn còn cảm thấy ngỡ ngàng, khi người phụ trách phòng khách trả lời rằng "Dominic hả? Xin vui lòng chờ một chút!". Tuy có hơi ngạc nhiên khi nghe lối xưng hô như vậy, nhưng tuyệt nhiên không thấy có sự bất kính hay một hình thức gọi là thiếu tôn trọng nào. Có lẽ nhiều giáo hữu Việt Nam cũng đã bắt đầu quen với lối xưng hô như vậy khi nghe người tín hữu Hoa Kỳ hoặc ngoại quốc gọi giám mục, linh mục của họ bằng tên của mỗi vị.

Tóm lại, người tín hữu nên dành cho các linh mục, giám mục, hồng y, và nhất là giáo hoàng sự kính trọng xứng đáng với phẩm chức của mỗi vị. Tuy nhiên, trong cung cách cư xử hàng ngày, nhất là trong cách xưng hô thì không phải vì vậy mà tạo nên một khoảng cách khiến có những hiểu lầm và lạm dụng giữa kẻ nói và người nghe; giữa người xưng hô và kẻ được xưng hô. Điều này chỉ có thể cắt nghĩa được bằng một tâm thức và lối sống thiếu thông cảm, thiếu cởi mở và tương kính lẫn nhau. Tuy khó khăn nhưng chúng ta cũng nên bắt đầu, vì nếu lối xưng hô từ trước đến nay là do được tạo nên bằng một bề dầy lịch sử, thì dần dần với cung cách và lối xưng hô mới mẻ này cũng sẽ tạo nên một truyền thống và đổi mới tốt đẹp dẫn đến một cung cách cư xử, và sống đạo tương kính, nhẹ nhàng, và trưởng thành đối với mọi thành phần trong Giáo Hội.